Tiểu luận - Lịch sử phát triển của phép biện chứng trong triết học

THThiNganHang
ダウンロード数: 5
15
0

プレビューを生成中...

資料の内容

1 ページ

Facebook:@Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Mục lục Trang  Lời nói đầu 2 Phần I- Các phép biện chứng trước triết học Mác 3 1. Phép biện chứng tự phát ngây thơ thời cổ đại 3 1.1 Triết học Trung hoa cổ đại 3 1.2 Triết học ấn Độ cổ đại 5 1.3 Triết học Hy Lạp cổ đại 6 2. Phép biện chứng Tây Âu thế kỷ XIV - XVIII 9 3. Phép biện chứng cổ điển Đức 10 Phần II. Phép biện chứng duy vật hay phép biện chứng Mác – xit 11 1. Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự ra đời của phép duy vật biện 11 chứng 2. Nội dung chính của phép biện chứng duy vật 12 Phần III. Phép biện chứng duy vật trong sự vận động và phát triển 13 của nền kinh tế nước ta hiện nay Kết luận 15 Tài liệu tham khảo 16 www.ThiNganHang.com Trang 11 S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N

2 ページ

Facebook:@Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Lời nói đầu Biện chứng và siêu hình là hai phương pháp tư duy trái ngược nhau trong triết học. Phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái đứng im, không vận động, tách rời cô lập và tách biệt nhau. Cách xem xét cho chúng ta nhìn thấy sự tồn tại của sự vật hiện tượng ở trạng thái đứng im tương đối, nhưng nếu tuyệt đối hoá phương pháp này sẽ dẫn đến sai lầm phủ nhận sự phát triển, không nhận thấy mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng. Trong khi đó trái lại, phương pháp biện chứng là: là phương pháp xem xét những sự vật hiện tượng và những phản ánh của chúng vào tư duy, chủ yếu là trong mối liên hệ qua lại của chúng, trong sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng". Trong lịch sử triết học có những thời gian, tư duy siêu hình chiếm ưu thế so với tư duy biện chứng. Nhưng xét trong toàn bộ lịch sử triết học, thì phép biện chứng luôn chiếm một vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần xã hội. Phép biện chứng là một khoa học triết học, vì vậy nó cũng phát triển từ thấp tới cao mà đỉnh cao là phép biện chứng duy vật Mác - xít của triết học Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn đánh giá cao phép biện chứng, nhất là phép biện chứng duy vật, coi đó là một công cụ tư duy sắc bén để đấu tranh với thuyết không thể biết, tư duy siêu hình, củng cố niềm tin vào sức mạnh và khả năng của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới. Việc nghiên cứu lịch sử phát triển của phép biện chứng sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn bản chất của phép biện chứng và sự phát triển của tư duy biện chứng của nhân loại. Xuất phát từ mục đích đó, tôi chọn đề tài tiểu luận về: lịch sử phát triển của phép biện chứng trong triết học, để nghiên cứu. Nội dung www.ThiNganHang.com Trang 22 S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N

3 ページ

Facebook:@Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Phần I- Các phép biện chứng trước triết học Mác 1. Phép biện chứng thời cổ đại Phép biên chứng thời cổ đại là phép biện chứng tự phát, ngây thơi và mang nặng tính trực quan được hình thành trên cơ sở quan sát tự nhiên, xã hội hoặc thông qua kinh nghiệm của bản thân. Ba trung tâm triết học lớn nhất thời bấy giờ là: Triết học Trung Hoa cổ đại, triết học ấn Độ cổ đại và triết học Hy Lạp cổ đại. Bên cạnh những đặc điểm chung, do đặc điểm văn hoá cũng như hoàn cảnh lịch sử khác nhau nên sự thể hiện tư tưởng biện chứng trong học thuyết triết học mỗi trung tâm đều có những đặc điểm riêng không giống nhau. 1.1 Triết học Trung Hoa cổ đại Triết học Trung hoa cổ đại là một nền triết học lớn của nhân loại, có tới 103 trường phái triết học. Do đặc điểm của bối cảnh lịch sử Trung Hoa lúc đó là xã hội loạn lạc, đời sống nhân dân cơ cực, đạo đức suy đồi nên triết học Trung hoa cổ đại tập trung vào giải quyết các vấn đề về chính trị - xã hội. Những tư tưởng biện chứng thời này chỉ thể hiện khi các nhà triết học kiến giải những vấn đề về vũ trụ quan. Một trong những học thuyết triết học mang tư tưởng biện chứng sâu sắc là Học thuyết Âm - Dương. Đây là một học thuyết triết học được phát triển trên cơ sở một bộ sách có tên là Kinh Dịch. Một trong những nguyên lý triết học cơ bản nhất là nhìn nhận mọi tồn tại không phải trong tính đồng nhất tuyệt đối, mà cũng không phải trong sự loại trừ biệt lập không thể tương đồng. Trái lại tất cả đều bao hàm sự thống nhất của các mặt đối lập - đó là Âm và Dương. Âm - Dương không loại trừ, không biệt lập, mà bao hàm nhau, liên hệ tương tác lẫn nhau, chế ước lẫn nhau. Kinh dịch viết: "Cương nhu tương thôi nhi sinh biến hoá", "Sinh sinh chi vi dịch". Sự tương tác lẫn nhau giữa Âm và Dương, các mặt đối lập, làm cho vũ trụ biến đổi không ngừng. Đây là quan điểm thể hiện tư tưởng biện chứng sâu sắc. Học thuyết này cũng cho rằng chu trình vận động, biến dịch của vạn vật trong vũ trụ diễn ra theo nguyên lý phân đôi cái thống nhất như: Thái cực (thể thống nhất) phân đôi thành lưỡng nghi (âm - dương), sau đó âm - dương lại tiến hành phân thành tứ tượng (thái âm - thiếu âm, thái dương - thiếu dương), tứ tượng lại sinh ra bát quái, và từ đó bát quái sinh ra vạn vật. www.ThiNganHang.com Trang 33 S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N

最初の3ページを表示しています。全文を見るには資料をダウンロードしてください。

コメント (0)

ログイン して議論に参加する

まだコメントはありません。最初のコメントを書きましょう!