1 ページ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM Nguyễn Thị Tâm Hạnh GIA GIÁO HUẾ THỜI KỲ 1885 - 1945 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC Hà Nội - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM Nguyễn Thị Tâm Hạnh GIA GIÁO HUẾ THỜI KỲ 1885 - 1945 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC Hà Nội - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM Nguyễn Thị Tâm Hạnh GIA GIÁO HUẾ THỜI KỲ 1885 - 1945 Chuyên ngành: Văn hóa học Mã số: 9229040 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Đình Hằng TS. Đinh Văn Hạnh Hà Nội - 2018
1 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận án Tiến sĩ Gia giáo Huế thời kỳ 1885 - 1945 là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các tư liệu được sử dụng trong luận án là trung thực; kết quả nghiên cứu của luận án chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác. Hà Nội, ngày tháng năm 2018 Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tâm Hạnh
2 MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT............................................................................ 3 MỞ ĐẦU......................................................................................................................... 4 Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIA GIÁO HUẾ......................25 1.1. Gia giáo và các khái niệm liên quan ............................................................ 25 1.2. Huế và những nhân tố định hình gia giáo Huế............................................ 36 1.3. Bối cảnh xã hội Huế thời kỳ 1885 - 1945...................................................... 57 Tiểu kết ................................................................................................................ 67 Chương 2. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA GIA GIÁO HUẾ THỜI KỲ 1885 - 1945....70 2.1. Mục tiêu gia giáo.....................................................................................................70 2.2. Một số nguyên tắc gia giáo cơ bản.........................................................................73 2.3. Nội dung gia giáo chính yếu...................................................................................84 2.4. Gia giáo quý tộc trong mối quan hệ với gia giáo bình dân.................................109 Tiểu kết........................................................................................................................114 Chương 3. VAI TRÒ CỦA GIA GIÁO HUẾ THỜI KỲ 1885 - 1945 VÀ VẤN ĐỀ KẾ THỪA TRONG GIÁO DỤC GIA ĐÌNH HIỆN NAY......................................116 3.1. Đóng góp của gia giáo Huế trong thời kỳ 1885 - 1945 ........................................117 3.2. Kế thừa gia giáo Huế thời kỳ 1885 - 1945: thực tiễn hiện nay và bài học kinh nghiệm từ quá khứ......................................................................................................127 Tiểu kết........................................................................................................................146 KẾT LUẬN.................................................................................................................148 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ.........................153 TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................154 PHỤ LỤC....................................................................................................................171
3 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Cb Chủ biên CTQG Chính trị Quốc gia d. Dịch ĐHQG Đại học Quốc gia HCM. Hồ Chí Minh hđ Hiệu đính HN Hà Nội KHXH Khoa học Xã hội KHXH&NV Khoa học Xã hội và Nhân văn NCS Nghiên cứu sinh Nxb. Nhà xuất bản QSQTN Quốc sử quán triều Nguyễn T/c Tạp chí Tp. Thành phố tr. Trang TS. Tiến sĩ VHDT Văn hóa dân tộc VHNT Văn hóa Nghệ thuật VHTT Văn hóa Thông tin
4 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Là kinh đô của nhà nước quân chủ - trung ương tập quyền cuối cùng của Việt Nam kéo dài gần 150 năm, Huế là nơi mà dấu ấn của mô hình đại gia đình phụ quyền Nho giáo được định hình một cách đậm nét. Đây cũng là lí do trong bối cảnh của đất nước vào nửa cuối thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX, những biểu hiện về sự va chạm, thích ứng giữa văn hóa gia tộc mang tính truyền thống với các yếu tố mới của văn hóa văn minh phương Tây ở Huế mang tính điển hình, mà gia giáo là một trong những yếu tố có thể nhận diện. Mặt khác, vốn được lựa chọn làm thủ phủ của cả nước không dựa trên nền tảng là một trung tâm kinh tế, nên sau khi mất vai trò kinh đô (1945), Huế hoàn toàn không còn là vùng đất hấp dẫn để các yếu tố bên ngoài tác động vào. Điều này vô hình chung đã giúp Huế bảo lưu, giữ gìn những yếu tố truyền thống, trong đó có văn hóa gia đình. Nói cách khác, Huế chính là một trong những điểm nghiên cứu tiêu biểu cho vấn đề gia giáo Việt Nam. Nghiên cứu gia giáo Huế với cách tiếp cận mang tính tích hợp theo nguyên tắc liên ngành của văn hóa học, vì thế, sẽ góp thêm một góc nhìn về gia giáo của người Việt nói chung, văn hóa Huế nói riêng. 1.2. Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam vẫn mang đậm những đặc tính của một xã hội nông nghiệp, thể hiện ở tỷ lệ người dân làm nông và sống ở nông thôn rất cao. Ngay cả thị dân, doanh nhân, công nhân, trí thức, cũng vừa mới rời ruộng đồng không quá một vài thế hệ. Gia đình, vì thế, vẫn giữ vị trí là nền tảng của xã hội, tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng, định hướng cho mỗi cá nhân định hình và phát triển nhân cách. Mặt khác, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kèm theo đó là gia đình người Việt hiện phải từng bước đối mặt với vấn nạn bố mẹ đang mất dần, thậm chí không có thời gian cho con cái, dẫn đến các hiện tượng tiêu cực liên quan đến giới trẻ ngày càng phổ biến (cướp giật, bắt cóc, nghiện hút, dối trá và nhiều tệ nạn khác); hoặc ở một thái cực khác là xuất hiện các khuynh hướng lệch lạc trong giáo dục gia đình (chạy theo thành tích, chương trình học quá sức). Những
5 phương thức và nội dung giáo dục không còn phù hợp, cản trở sự phát triển của cá nhân; hoặc tinh thần dân chủ văn minh lâu nay được đề xướng trở thành cái cớ vin vào cho chủ nghĩa cá nhân phát triển một cách cực đoan, đều là những bài toán thực tiễn đòi hỏi hướng giải quyết mang tính cấp bách và lâu dài. Điều này càng trở nên bức thiết khi ở một góc nhìn xa hơn, trong xu hướng toàn cầu hóa diễn ra ngày càng sâu rộng với sự xuất hiện của thế hệ công dân toàn cầu (global citizen), vấn đề giữ gìn bản sắc được đặt ra như một nền tảng mang tính nguồn cội và thiêng liêng để mỗi cá nhân tự tin hội nhập với thế giới hiện đại. Trong khi đó, về mặt nhận thức, các giá trị văn hóa truyền thống, trong đó có gia giáo, gia quy, có lúc như đã bị đứt gãy, gián đoạn. Thậm chí có thời kỳ, những gì liên quan đến yếu tố cổ truyền đều được cho là lí do níu kéo, làm tụt hậu xã hội. Chính sự nhìn nhận chưa thỏa đáng này khiến quá trình xây dựng các chuẩn mực, hệ giá trị gia đình mới thiếu tính kế thừa và không phát huy hết sức mạnh nội sinh trong quá trình củng cố, phát triển gia đình cũng như giáo dục gia đình. 1.3. Từ những cơ sở lí luận và thực tiễn đặt ra trên đây, tìm hiểu Gia giáo Huế thời kỳ 1885 - 1945 có ý nghĩa như một bước nghiên cứu căn bản góp phần hệ thống hóa truyền thống gia giáo của người Việt. Có thể coi đây là một trong những quá trình tổng kết tri thức truyền thống, phục vụ cho sự phát triển của giáo dục gia đình Việt Nam trên tinh thần vừa gìn giữ, cải tổ và tái sinh những giá trị tinh hoa để phù hợp với cuộc sống hiện đại; vừa vững vàng để tiếp thu và sáng tạo các chuẩn mực giáo dục gia đình mới. Tất cả nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng một nền văn hóa gia đình Việt Nam hài hoà và hợp lý trên nền tảng truyền thống. Từ đó, gia đình có thể cùng với giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội, hỗ trợ người trẻ để họ có thể trở thành những chủ thể tự tin, tự chủ, trưởng thành, có trách nhiệm và là nguồn nhân lực có chất lượng của đất nước. 2. Tình hình nghiên cứu Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có được một công trình mang tính tổng hợp xuyên suốt về quá trình phát sinh, phát triển, đặc điểm và sự biến đổi của gia giáo người Việt nói chung, Huế nói riêng. Song, xung quanh vấn đề này đã được nhiều
6 tác giả trong và ngoài nước trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến ở những mức độ khác nhau, dưới dạng bài báo tạp chí, sách, tham luận hội thảo, v.v. Ở đây, chúng tôi điểm lại một số công trình đã tiếp cận được liên quan đến đối tượng nghiên cứu. 2.1. Nhóm các công trình của nước ngoài và bằng tiếng nước ngoài Mặc dù các ngành khoa học xã hội nhân văn nước ta phát triển khá muộn nhưng từ đầu thế kỷ XX giáo dục gia đình đã được đặc biệt chú ý. Theo đó, các quan điểm liên quan đến nhi đồng học của các học giả trên thế giới bắt đầu được giới thiệu ở Việt Nam. Đáng chú ý nhất là loạt bài viết trên Tạp chí Tri Tân từ số 163 đến 174: “Lịch sử khoa nhi đồng học” [12], “Ngó sơ lịch sử khoa nhi đồng học của ngoại quốc” [13], “Lịch sử nhi đồng học Anh, Mỹ” [14], “Lịch sử nhi đồng học từ Đức, Nga đến Nhật, Hoa” [15]. Tuy còn sơ lược nhưng những tác phẩm chính yếu ở phương Tây lẫn phương Đông đã được điểm qua một cách có hệ thống. Cụ thể, ở Hi Lạp, Platon (423 - 347 tr. CN) trong sách Pháp luật (Law), Nước cộng hòa (Republic) và Aristote (384 - 322 tr. CN) trong Toàn tập đã đề cập đến đến tâm lý chơi đùa của trẻ em là tự nhiên và mang tính dự bị để đi đến các bước làm việc, tránh lười biếng; người lớn không nên can thiệp và thay đổi chúng [13, tr. 2]. Ở Đức, Dietrich Tieddemann (1748 - 1803) được xem là ông tổ của Khoa nhi đồng học với “thiên quan sát sự phát triển của tinh thần và năng lực của nhi đồng” [15, tr. 2]; Sigismund với tác phẩm Nhi đồng với thế giới, Preyer với Truyện ký nhi đồng, v.v. Ở Pháp, có thể kể đến Rabelais (1494 - 1553) với ngụ ngôn Gargantua đã “gieo cái viễn nhân về sự nghiên cứu nhi đồng ở Pháp” [13, tr. 3]; J. J. Roueau (1712 - 1778) với Emile (1762) đã đề xuất đường lối giáo dục tiêu cực (éducation négative) “lấy thiên tính nhi đồng làm nền gốc thi hành việc dạy dỗ” [12, tr. 2]; ngoài ra còn có Taire (1818- 1893), Egger (1813 - 1885), v.v. Ở Anh, đáng chú ý là Darwin với tác phẩm The Expression of the Emotions in Man and Animals, bàn luận về cách biểu lộ tình cảm của con người và động vật; Pollock, Sully nghiên cứu về tiếng nói của trẻ em, v.v. Ở Mỹ, tiêu biểu nhất là Granville Stanlay Hall (1846 - 1924) với hàng loạt những tác phẩm có ảnh hưởng lớn, như: Adolescence (Thời kỳ thanh xuân, 1905), Aspecis of child life (Các phương diện sinh hoạt của nhi đồng, 1907),
7 Educational problems (Các vấn đề giáo dục, 1911), Founder of modern psychology (Nhà kiến thiết của tâm lý học hiện đại, 1922) [14]. Ở thời kỳ này, quan niệm của Oscar Chrisman (1896) cho rằng: “Nhi đồng học là một khoa học thuần túy. Chức năng của khoa học ấy là nghiên cứu về sinh hoạt, phát triển, quan niệm và bản thể của nhi đồng (…). Nhi đồng học không phải là giáo dục học, vì giáo dục học là khoa học ứng dụng; còn nhi đồng học thì không thể coi là khoa học ứng dụng được” [dẫn theo 13, tr. 2], song thực tế, các nghiên cứu về nhi đồng học trên đây không tách rời với giáo dục học - cụ thể là giáo dục gia đình; ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tư tưởng của nhiều người nghiên cứu/ hoạt động trong lĩnh vực giáo dục Việt Nam trước 1945. Đặc biệt gần gũi với nước ta là các tác phẩm của các học giả người Nhật Bản (Nghiên cứu nhi đồng theo cách ứng dụng giáo dục (1911), Thân thể và thân - thần của nhi đồng (1914) của Cao Đảo Bình Tam Lang, Nhi đồng tâm lý học của Tùng Bản Hiếu Thứ Lang, Nhi đồng học của Quan Khoan Chi) và Trung Quốc (Nhi đồng tánh lý chi nghiên cứu (1925) của Trần Hạ Cầm, Ấu trĩ viên giáo dục của Vương Tuấn Thanh) [15]. Một số tác phẩm liên quan đến giáo dục gia đình trên thế giới cũng đã được chuyển dịch sang tiếng Việt, như: Gia đình giáo dục của tác giả người Hoa Qua Bằng Vân do Sử Đình Tử (dịch), Tiếng Dân (Huế) xuất bản. Sách chia làm hai quyển, thượng và hạ với tất cả có 16 chương. Trong lời mở đầu cho bản dịch này, Sử Đình Tử đã viết: “Sống trong xã hội, ai lại không có con cháu? Có con cháu ai lại không muốn cho chúng nó ngày sau nên người? Gia đình giáo dục là một cái phương pháp dạy cho con cháu nên người, gia đình tức là trường học, con em tức là học trò, mà phụ huynh chính là ông thầy giáo” [dẫn theo 21, tr. 2 - 3]. Muốn khỏe là tác phẩm khác được Đào Văn Khang “phỏng theo phương pháp Paul Serviet, (…) châm chước ít nhiều cho hợp trình độ luyện tập của trẻ em nước ta” [dẫn theo 21, tr. 3], để viết về phương pháp thể dục và phương pháp tiến hành các trò chơi để luyện tập giác quan. Ngoài ra, chúng ta có thể tìm thấy trên các tạp chí trước 1945 hàng loạt các tác phẩm liên quan đến giáo dục gia đình, giáo dục nhi đồng được dịch/lược dịch, như: “Bàn về việc giáo dục trong gia đình” (1916) do Chương Dinh “dịch sách
8 Tàu”, đăng trên Tạp chí Nam phong số 20 [45]; “Sự giáo dục trong gia đình: Đạo dạy con” (không ghi tác giả) do Nguyễn Bá Học dịch, đăng trên Tạp chí Nam Phong số 34 [77] và số 35 [78] với: “Chủ ý thuật những phương pháp phổ thông để cung cấp cho những nhà có trách nhiệm dạy con biết đường ăn ở để dưỡng thành nhân cách cho con trẻ” [77, tr. 287]. Ngoài tiếng Trung, một số tác phẩm bằng tiếng Pháp cũng được dịch trực tiếp sang tiếng Việt, như Pour bien élever ses enfants (1911) của Adam Juliette được Đạm Phương dịch “mấy đoạn” với tiêu đề Cách bảo dưỡng trẻ con, đăng thành nhiều kỳ trên báo Trung Bắc Tân Văn (1926) để “nữ giới mình nhàn lãm, cũng bổ ích về sự giáo dục gia đình” [73, tr. 313], v.v. Các tác phẩm dịch này đem lại những tư tưởng mới liên quan đến quan niệm và phương pháp giáo dục trẻ em đương thời, cụ thể hơn là chú ý đến tâm lý, cá tính của trẻ em thay vì áp đặt và dạy một cách cảm tính, theo chủ nghĩa kinh nghiệm. Một số công trình bằng tiếng Pháp khác của chính các tác giả người Việt Nam đã đề cập đến vấn đề hương hỏa gắn liền với luật pháp, phong tục và vai trò nổi bật của người đàn ông trong việc kế tục sự thờ cúng, duy trì nề nếp gia đình. Những bàn luận này không tách rời với chuẩn mực trong gia giáo truyền thống của người Việt. Đáng chú ý là nghiên cứu của tiến sĩ luật Hồ Đắc Điềm (1899 - 1986): La Puissance paternelle dans le droit annamite (Chế độ phụ quyền trong pháp luật Việt Nam, 1928, Paris); Lê Văn Đính: cult d ancêtr n droit annamit - Essai historique et critique sur le Huong - Hoa (Thờ cúng tổ tiên trong luật Việt Nam - tiểu luận lịch ử và phân tích về vấn đề hương hỏa, 1934, Paris), hay Dương Tấn Tài với La part de l'encens et du feu: avec une introduction sur le culte des ancêtres et un aperçu général sur les biens de culte (Phần hương hỏa: một dẫn nhập về thờ cúng tổ tiên và tổng quan về những mỹ tục thờ cúng, 1932, Nxb. Nguyễn Văn Của, Sài Gòn). Những tác phẩm trên đây cũng đã được tác giả Nguyễn Văn Huyên (1944) đề cập đến trong La civilisation annamite (Văn minh nước Nam) [82]. Cũng trong công trình này, ở chương 2 viết về Nhà, ông đã chỉ ra hiện thực: “Uy quyền của người bố ít phát huy hơn xưa” bởi sự xuất hiện của thiết chế trường học cũng như xu thế “tình cảm trở nên tinh tế về quyền của cá nhân” [82, tr. 591].
最初の10ページを表示しています。全文を見るには資料をダウンロードしてください。
まだコメントはありません。最初のコメントを書きましょう!
コメント (0)
まだコメントはありません。最初のコメントを書きましょう!