4 ページ
Khám phá các làng nghề mười lộ trình quanh hà nội Sylvie Fanchette Nicholas Stedman Sách do IRD xuất bản tháng 6 năm 2009
Khám phá các làng nghề mười lộ trình quanh hà nội Sylvie Fanchette Nicholas Stedman Sách do IRD xuất bản tháng 6 năm 2009
Ý tưởng, nghiên cứu, điều tra và biên soạn: nhà địa lý Sylvie Fanchette (IRD) Biên soạn, nghiên cứu và dịch sang tiếng Anh: nhà văn, biên dịch viên Nicholas Stedman Phụ trách chính về nhiếp ảnh: François Carlet-Soulages, Agence NOI Pictures Tham gia phụ trách nhiếp ảnh: Tessa Bunney Lập bản đồ: Eric Opigez, Phòng Lập bản đồ của IRD, Bondy Tham gia biên dịch sang tiếng Anh: David Mason và Stéphane Jaggers Biên dịch sang tiếng Việt: Phạm Thị Hoa, Hoàng Thị Mai Anh, Trịnh Thị Thủy Hoa Tham gia biên soạn: Guillaume Da, Philippe Le Failler (EFEO), Céline Hamel Tham gia nghiên cứu: Nguyễn Xuân Hoản (Casrad) Đồ hoạ: Charles Beranger Những quan điểm có thể được thể hiện trong quyển sách này chỉ là những quan điểm của các tác giả, chứ không phải là quan điểm của các tổ chức tài trợ cho tác phẩm. Cuốn sách này thuộc toàn quyền của IRD Cấm sao chép dù chỉ một phần, dưới mọi hình thức khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép bằng văn bản. © IRD, Viện nghiên cứu phát triển IRD, 2009 ISBN IRD : 978-2-7099-1672-1
Lời cảm ơn Đầu tiên, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những nghệ nhân vùng châu thổ sông Hồng mà chúng tôi đã gặp, đã đón tiếp chúng tôi nồng hậu và kể cho chúng tôi những câu chuyện về làng, về nghề và về cuộc sống của họ. Không có họ và sự kiên nhẫn của họ thì chúng tôi đã không thể viết được cuốn sách này. Tiếp theo, chúng tôi xin được trân trọng cảm ơn cán bộ uỷ ban nhân dân các xã nơi chúng tôi nghiên cứu đã tin tưởng và nhiệt tình chia sẻ kinh nghiệm với chúng tôi. Chúng tôi xin đặc biệt cảm ơn ông Michael DiGregorio của Quỹ Ford, người đã giúp đỡ chúng tôi về tinh thần, tài chính cũng như những ý kiến đóng góp khoa học trong suốt quá trình nghiên cứu và biên soạn cuốn sách này. Ngoài ra, chúng tôi xin cảm ơn anh François Carlet-Soulages, người đã đi cùng chúng tôi thăm nhiều làng và mang lại cho cuốn sách những bức ảnh ấn tượng. Chúng tôi xin được cảm ơn các đơn vị đã tài trợ kinh phí cho tác phẩm này, Ban thông tin truyền thông của Viện nghiên cứu phát triển, Cơ quan phát triển Pháp, Đại diện của Wallonie Bruxelles tại Hà Nội, thành phố Toulouse, công ty Hermès, Espace -Trung tâm văn hoá Pháp tại Hà Nội. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn nhà đồ hoạ, anh Charles Beranger, đã khéo léo và kiên nhẫn thực hiện công đoạn cuối cùng nhưng đòi hỏi nhiều thời gian là làm maket cho tác phẩm này. Chúng tôi cũng xin cảm ơn các phiên dịch viên đã đi thực tế cùng chúng tôi cũng như các nhà biên dịch đã giúp quyển sách này được xuất bản bằng 3 thứ tiếng. Cuối cùng, chúng tôi xin được cảm ơn bạn bè và người thân đã kiên nhẫn, hỗ trợ và cho chúng tôi những lời khuyên.
Các tác giả Sylvie FANCHETTE là tiến sĩ địa lý, tốt nghiệp trường Đại học Paris VIII. Từ tháng 10 năm 1993, bà bắt đầu làm việc tại Viện nghiên cứu phát triển IRD. Bà quan tâm tới quá trình đô thị hoá nông thôn tại các vùng châu thổ đông dân cư (như các sông Hồng, Nil, Niger...). Bà sống ở Việt Nam từ nhiều năm nay và chủ trì một công trình nghiên cứu về “sự phát triển của làng nghề trong quá trình mở rộng các thành phố xung quanh Hà Nội”. Nicholas STEDMAN là thạc sỹ văn chương của trường McGill (Montréal). Ông từng là biên phiên dịch viên, biên tập viên, người duyệt bản dịch, người tham vấn, người tổ chức liên hoan phim, người chiếu phim và giáo viên tiếng Anh trên khắp bốn châu lục. Là đồng tác giả của cuốn sách hướng dẫn giới thiệu về phong tục Việt Nam mang tên “Nên và không nên làm gì ở Việt Nam”, ông ở Hà Nội từ năm 1999 đến năm 2007. Từ cuối 2007, ông sống và làm việc ở Accra (Ghana). François CARLET-SOULAGES là nhiếp ảnh gia từ năm 1997 sống ở Hà Nội Việt Nam từ năm 2002. Năm 2008 anh mở hãng nhiếp ảnh NOI Pictures (www.noipictures.com) ở Hà Nội, hội tụ nhiều nhà nhiếp ảnh với phong cách khác nhau đến từ khắp nơi trên thế giới. NOI Pictures cũng giới thiệu rất nhiều hình ảnh về Việt Nam.
Lời tựa Tr. 11 Lời nói đầu Tr. 13 Phần 1: Nghề thủ công xưa trong lòng một di sản lớn Tr. 15-61 Phần 2: Lộ trình thăm quan các làng nghề và di sản văn hoá Tr. 59-303 Phụ lục Tr. 304 Danh sách các làng nghề nên đến thăm Tr. 305 Danh sách di sản văn hoá và kiến trúc nên đến thăm Tr. 306 Lễ hội ở các vùng lân cận của Hà N ội Tr. 307-312 Tài liệu tham khảo Tr. 313-315 Từ tháng 8 năm 2008 Tỉnh Hà Tây đã được sát nhập vào thủ đô Hà Nội, tuy nhiên trong cuốn sách này, các tác giả xin được dùng cách gọi cũ để tiện định vị các địa danh của vùng đất lịch sử này.
L ộ t r ì n h 1 Làng gỗ mỹ nghệ và giấy (Bắc Ninh) Tr. 62-87 L ộ t r ì n h 1b i s Cụm làng gốm (Bắc Ninh và Bắc Giang) Tr. 88-105 L ộ t r ì n h 2 Nghề gốm, dát vàng quỳ và thuốc đông dược (Gia Lâm) Tr. 106-141 L ộ t r ì n h 3 Tranh dân gian, gò đồng và tre hun (Bắc Ninh) Tr. 142-167 L ộ t r ì n h 4 Những làng dệt quanh Hà Đông (Hà Tây) Tr. 168-189 L ộ t r ì n h 5 Sơn mài, khắc gỗ và đồ bằng sừng (phía nam Hà Nội) Tr. 190-215 L ộ t r ì n h 6 Nghề thêu và khảm trai (phía nam Hà Tây) Tr. 216-239 L ộ t r ì n h 7 Tre và nghề đan lát (phía tây nam Hà Tây) Tr. 240-263 L ộ t r ì n h 8 Tre và mây (phía tây Hà Tây) Tr. 264-285 L ộ t r ì n h 9 Con đường của những làng nghề chế biến nông sản (phía tây Hà Nội) Tr. 286-303
Lời tựa Cách đây khoảng mười năm, trên đường về Bắc Ninh cùng với người chủ của một xưởng luyện kim, tôi đã nghỉ chân một lát dọc đường. Chúng tôi đã nói chuyện về lịch sử nghề thủ công của làng anh. Trong lúc say sưa kể, bỗng anh dừng lại và quay về phía tôi rồi nói : « Tôi không phải là A-na-mit ! ». Giọng Bắc Ninh trầm của anh làm tôi bối rối một lát. Tôi hỏi anh « A La Mit » có nghĩa là gì ? « Annamite », anh chữa lại, điều đó có nghĩa là : « ngu, dốt ». Câu nói này làm tôi quan tâm hơn tất cả các nhận xét khác mà tôi đã từng nghe được trong suốt một năm ở Bắc Ninh. Các bạn của tôi ở làng Đa Hội cũng như những người bạn ở phần lớn các làng nghề mà tôi đã tới tham quan chẳng hề chờ đợi sự phát triển đến với họ một cách thụ động ; Họ nắm bắt các cơ hội khi có dịp và điều chỉnh loại hình sản xuất sao cho phù hợp với thị hiếu của thị trường. Việc làm này đã được tiến hành từ lâu trước khi cải cách về tự do kinh doanh khẳng định quyền của họ. Trước khi có đầu tư nước ngoài trực tiếp vào sản xuất, các làng này từng cung cấp cho thị trường Việt Nam nhiều sản phẩm đa đạng : nông sản, rượu, quần áo, vật liệu xây dựng, phụ tùng xe đạp, hàng mây tre đan, thuốc lá, chổi, đồ gốm sứ và nhiều mặt hàng tiêu dùng khác phục vụ cho cuộc sống hàng ngày, đôi khi dưới hình thức hợp đồng cho các xí nghiệp nhà nước. Mặc dù vậy, những người bạn của tôi trong ngôi làng này cũng như trong các làng nghề khác vẫn tiếp tục đấu tranh, phản đối hình ảnh đã gắn liền với nghề của họ : kỹ thuật lạc hậu, « ngốn » nhiều nhân công, thu nhập thấp. Nói tóm lại là « Anamite », theo lối nói thân mật. Điều chắc chắn là nhiều làng thủ công truyền thống ở đồng bằng châu thổ sông Hồng thể hiện rất rõ điều này, và nhiều làng trong số đó đã bỏ nghề. Nhưng mỗi khi có một làng nghề biến mất thì lại có một ngôi làng khác thay đổi sản xuất, làm cho nó phù hợp với thị trường tiêu dùng mới và ngay cả nhiều làng khác, trước kia chỉ làm các công việc nhà nông, nay đã trở thành làng nghề vì lợi ích của chính họ, sản xuất nhiều mặt hàng đa dạng, kể cả những viên bi bằng nhựa, tủ đựng tài liệu, vốn không được coi là các mặt hàng truyền thống. Giống như những điều mà các bạn sẽ thấy trong cuốn sách này, các làng nghề đã tạo ra chiếc cầu nối giữa quá khứ và tương lai, trở thành biểu tượng của nghề thủ công truyền thống, đồng thời là sức mạnh năng động của sự phát triển kinh tế. Cũng có thể là cả hai bởi do bản chất, chúng là sự kết hợp giữa sự khéo léo, vốn kiến thức và hệ thống các mối quan hệ được sản sinh trong sự hợp nhất giữa làng và nghề, chúng có thể tạo ra, ít nhất là nguồn thu phụ bổ sung cho nguồn thu chính từ nông nghiệp, hoặc khá hơn là một khoản thu để nâng cao mức sống của người dân và cho phép đầu tư. Vai trò của các làng nghề là không thể phủ nhận, tuy nhiên, các bài học lý thuyết và thực tiễn về sự phát triển đã làm lu mờ chúng. Các nguyên nhân ở đây rất phức tạp, trong đó có hai nhân tố nổi lên rõ rệt : Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển bị thuyết phục bởi ảo tưởng về các công ty qui mô lớn, sản xuất hàng hóa với số lượng lớn, sử dụng hàng nghìn công nhân vừa được giải phóng khỏi công việc đồng áng. Và cũng như các nước khác, đất nước này bước vào kỷ nguyên mới với những định kiến trong việc đánh giá các doanh nghiệp tư nhân. Bởi các công ty tư nhân của các làng nghề phần lớn đều tồn tại dưới hình thức xí nghiệp gia đình với qui mô nhỏ. Rất nhiều quốc gia đã sai lầm bởi hai tiền giả định này và đã không nhận thức được bản chất của quá trình hợp nhất các xí nghiệp trong các làng nghề hoặc các cụm làng. Các tổ hợp xí nghiệp này tạo ra các tổ hợp kinh tế qui mô hơn và bước vào cạnh tranh với các công ty lớn, cho phép các làng nghề tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên không phải Trung Quốc với các công ty khổng lồ trên qui mô toàn xã, mà là Italia với các tổ hợp của các xí nghiệp nhỏ ở qui mô làng hoặc phố huyện đã trở thành nền tảng của sự phát triển kinh tế từ nửa thế kỷ qua. Bạn hãy cầm cuốn sách này trong tay, theo các lộ trình tham quan của nó, nói chuyện với thợ thủ công và thương nhân, mua cho họ một thứ gì đó để mang về nhà, tạo nên các mối quan hệ đối tác trong kinh doanh. Hãy tưởng tượng rằng bạn đang tham dự một giai đoạn phát triển công nghiệp lâu dài trong một khoảng thời gian ngắn, bạn sẽ không cảm thấy thất vọng. Michael digregorio, cán bộ phụ trách các vấn đề thông tin, nghệ thuật, văn hóa và giáo dục của Quỹ Ford, Hà Nội.
最初の12ページを表示しています。全文を見るには資料をダウンロードしてください。
まだコメントはありません。最初のコメントを書きましょう!
コメント (0)
まだコメントはありません。最初のコメントを書きましょう!