1 ページ
J. Sci. & Devel. 2015, Vol. 13, No. 8: 1519-1526 Tạp chí Khoa học và Phát triển 2015, tập 13, số 8: 1519-1526 www.vnua.edu.vn ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH GIỚI HẠN SẢN XUẤT NGẪU NHIÊN ĐỂ ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ MÔI TRƯỜNG CỦA HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Võ Hồng Tú Khoa Phát triển Nông thôn, Đại học Cần Thơ Email: vhtu@ctu.edu.vn Ngày gửi bài: 16.06.2015 Ngày chấp nhận: 23.12.2015 TÓM TẮT Bài viết giới thiệu về phương pháp đo lường hiệu quả môi trường của hoạt động sản xuất nông nghiệp bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận hàm giới hạn sản xuất ngẫu nhiên. Kết quả từ phương pháp này mang tính chất thực tiễn và ứng dụng cao do có thể tách được các tác động nhiễu trong quá trình đo lường và đảm bảo sự phân bố độc lập giữa hai chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật định hướng đầu ra và hiệu quả môi trường. Hiệu quả môi trường được định nghĩa là khả năng giảm các đầu vào gây ảnh hưởng xấu đến môi trường trong khi giữ cố định các đầu vào khác và đầu ra ở mức hiện tại. Đây là một chỉ tiêu đầy hứa hẹn giúp cho nhà sản xuất, người tiêu dùng và nhà làm chính sách có căn cứ thực tiễn để có những giải pháp phù hợp nhằm đảm bảo hài hòa quá trình phát triển và bảo vệ môi trường. Bài viết cũng đưa ra một trường hợp nghiên cứu về sản xuất lúa của 199 hộ tại tỉnh An Giang năm 2014 để làm minh họa cho phương pháp và tiến trình tính toán cụ thể. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả kỹ thuật định hướng đầu ra của hộ sản xuất lúa trung bình là 93,16% và hiệu quả môi trường là 77,70%. Nghiên cứu cũng cho thấy, hiệu quả môi trường luôn nhỏ hơn so với hiệu quả kỹ thuật định hướng đầu ra. Từ khóa: Hiệu quả môi trường, hiệu quả kỹ thuật, phân tích giới hạn sản xuất ngẫu nhiên. Estimating Environmental Efficiency for Agricultural Production: A Case Study of Rice ABSTRACT The paper introduced a methodology to estimate environmental efficiency for agricultural production by applying stochastic frontier analysis. The results estimated from this method are reliable and applicaple in reality because the method can separate noise effects from deterministic frontier and ensures the independent distribution of technical and environmental efficiency scores. The so-called environmental efficiency was defined as the ability to reduce environmentally detrimental inputs while keeping other observed inputs and output level constant. The environmental efficiency is a promising and empirical indicator for producers, consumers and decision makers to arrive atproper solutions or interventions that promote the harmonious development respecting the environment. The paper also provided an example of 199 rice farmers in An Giang province in 2014 to demonstrate the detailed steps of the measurement. The results showed that the average technical efficiency and environmental efficiency were 93.16% and 77.70%, respectively. In all cases, the environmental efficiency scores were smaller than those of the technical efficiency. Keywords: Environmental efficiency, stochastic frontier analysis, technical efficiency. xuất. Sau cuộc cách mạng xanh từ những năm 1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1960 và chính sách đổi mới từ 1986, kinh tế Việt Trong quá trình phát triển sản xuất, khi đã Nam đã đạt những bước tiến vượt bật, trong đó đạt đủ về lượng cũng như tích lũy đủ về vốn, bảo không thể không kể đến những thành tựu của vệ môi trường là một hoạt động cần thiết để duy hoạt động sản xuất nông nghiệp (Can, 2014; trì tính ổn định và bền vững của mô hình sản Kompas, 2004; Pingali and Xuan, 1992). Từ một 1519
2 ページ
Ứng dụng phương pháp phân tích giới hạn sản xuất ngẫu nhiên để đo lường hiệu quả môi trường của hoạt động sản xuất nông nghiệp nước thiếu đói, nước ta đã vươn lên trở thành Analysis). Do cách tiếp cận DEA tính toán hiệu nước xuất khẩu lúa gạo nhất nhì thế giới. Để quả dựa trên mô hình tuyến tính (mathematic đạt được những thành tựu này, nhiều chương programming) và phi tham số (non-parametric) trình ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản nên không thể loại bỏ các tác động nhiễu (noise xuất như sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo effects) ra khỏi đường giới hạn sản xuất vệ thực vật và nhiên liệu để tăng năng suất sản (deterministic frontier), nên bài viết này sẽ tập xuất đã được triển khai rộng rãi. Tuy nhiên, trung giới thiệu phương pháp đo lường hiệu quả nhiều vấn đề cũng đã nảy sinh như việc sử dụng môi trường bằng cách tiếp cận phân tích giới không có kiểm soát các hóa chất nông nghiệp đã hạn sản xuất ngẫu nhiên. Cách tiếp cận phân gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường tích giới hạn sản xuất ngẫu nhiên dựa trên mô sống, hệ sinh thái và sức khỏe của cả người sản hình kinh tế lượng nên có thể khắc phục các xuất và tiêu dùng (Dung and Dung, 1999; nhược điểm của phương pháp phân tích vỏ bọc Heong, 2009). Đã có rất nhiều nghiên cứu được dữ liệu. đề xuất thực hiện nhằm tìm ra mức sử dụng Để hiểu rõ hơn về cách tiếp cận SFA, bài hiệu quả và tối ưu phân bón cho từng địa viết xin đề xuất một số nghiên cứu sử dụng cách phương và cây trồng cụ thể. Những kết quả này tiếp cận này để đánh giá hiệu quả cho mô hình mang tính ứng dụng thực tiễn cao, tuy nhiên sản xuất nông nghiệp của Việt Nam. Kompas bản chất của nó chưa xem xét đến mối tương (2004) đã sử dụng số liệu hai chiều (panel data) quan với đầu ra hay năng suất và khả năng giai đoạn từ 1991 đến 1999 của 60 tỉnh ở Việt thay thế lẫn nhau giữa chính các đầu vào. Do Nam và cách tiếp cận SFA để đánh giá về hiệu vậy, việc tìm ra mô hình thể hiện sự tương quan quả kỹ thuật của sản xuất lúa. Kết quả cho thấy giữa đầu ra và đầu vào để đánh giá hiệu quả sử hiệu quả kỹ thuật cho cả nước năm 1999 là dụng của các yếu tố đầu vào có ảnh hưởng xấu 59,2% và 78% cho khu vực Đồng bằng sông Cửu đến môi trường như phân bón hóa học, thuốc trừ Long (ĐBSCL). Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa sâu và nhiên liệu là hết sức cần thiết (Reinhard, xem xét đến hiệu quả môi trường.Tương tự, 1999; 2000; Reinhard and Thijssen, 2000). Khai and Yabe (2011) sử dụng số liệu từ kết quả Khi nền kinh tế phát triển theo hướng cạnh điều tra mức sống hộ gia đình năm 2006 của tranh lành mạnh cùng với nhu cầu ngày càng 3.733 nông hộ để đo lường hiệu quả kỹ thuật tăng đối với các sản phẩm nông nghiệp sạch và của sản xuất lúa bằng cách tiếp cận SFA. Kết an toàn, việc sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả kỹ thuật định vào ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe hướng đầu vào trung bình đạt 81,6%, có nghĩa của con người là một trong những mục tiêu là người dân có khả năng giảm gần 19% nhập hàng đầu của nhà sản xuất. Những chỉ tiêu hiệu lượng và vẫn giữ được mức đầu ra cố định. Tuy quả này sẽ góp phần quan trọng giúp định vị nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung xem xét tất cho các sản phẩm và cũng là tiêu chí để các nhà cả các đầu vào và đầu ra và chưa xem xét đến quản lý và làm chính sách có công cụ can thiệp các yếu tố có tác động xấu đến môi trường. phù hợp. Do vậy, phương pháp đo lường hiệu quả môi Trong nghiên cứu này, hiệu quả sử dụng trường bằng cách tiếp cận SFA là rất cần thiết các đầu vào có ảnh hưởng xấu đến môi trường để vừa đánh giá mức độ sử dụng không hiệu được gọi là hiệu quả môi trường. Thuật ngữ này quả, vừa phản ánh mức độ thân thiện với môi được đề xuất đầu tiên bởi Reinhard et al. (1999) trường của mô hình sản xuất nông nghiệp. để đánh giá cho mô hình nuôi bò sữa. Để đo Để thể hiện rõ tính chất thực tiễn và dễ ứng lường hiệu quả môi trường, cho đến nay có hai dụng, bài viết được cấu trúc hai phần chính như cách tiếp cận chính là sử dụng phương pháp sau: 1) Phương pháp tổng quát để đo lường hiệu phân tích vỏ bọc dữ liệu (DEA - Data quả môi trường bằng cách tiếp cận SFA; 2) Envelopment Analysis) và phân tích giới hạn Trường hợp nghiên cứu minh họa và chi tiết tiến sản xuất ngẫu nhiên (SFA - Stochastic Frontier trình tính toán hiệu quả môi trường. 1520
3 ページ
Võ Hồng Tú 2. MÔ HÌNH LÝ THUYẾT Để thể hiện chi tiết cho công nghệ sản xuất của mô hình sản xuất theo phương trình (1), có Như đã được đề cập, nghiên cứu sẽ sử dụng nhiều dạng hàm khác nhau được đề xuất sử phương pháp phân tích giới hạn sản xuất ngẫu dụng như Cobb-Douglas, trangslog,... (Rao, nhiên được đề xuất bởi Aigner (1977) và 2005; Kumbhakar and Lovell, 2003). Tuy nhiên, Meeusen and Van Den Broeck (1977) để đánh để đo lường được hiệu quả môi trường và đảm giá hiệu quả môi trường của hoạt động sản xuất bảo tính biến đổi cũng như độc lập với hiệu quả nông nghiệp. kỹ thuật, hàm translog sẽ được sử dụng Giả sử một nông hộ sử dụng 2 nhóm yếu tố (Reinhard et al., 1999). đầu vào, ký hiệu là X và Z, để sản xuất một đầu Hàm giới hạn sản xuất ngẫu nhiên của ra, ký hiệu là Y (Y∈ ܴ ା), trong đó X (ܺ ∈ ܴ ା) là phương trình (1) dưới dạng translog được viết vector các đầu vào thông thường như lao động, lại như sau: vốn,… và Z (ܼ ∈ ܴ ା) là những yếu tố đầu vào có tác động hay ảnh hưởng xấu đến môi trường ݊ܮ ܻ = ߚ + ߚ݈݊ ܺ +ߙ݈݊ ܼ như phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, nhiên liệu 1 hoặc là lượng nước ngầm, nước sông trong bối + ߚ݈݊ ܺ ݈݊ ܺ 2 cảnh khan hiếm về nước hoặc có mâu thuẫn về 1 mục đích sử dụng nước. Như vậy, hàm giới hạn + ߙ݈݊ ܼ ݈݊ ܼ 2 sản xuất ngẫu nhiên thể hiện mối tương quan giữa đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất + ߜ݈݊ ܺ ݈݊ ܼ + ݒ − ݑ được viết bằng phương trình tổng quát như sau: ܻ = ݂ (ܺ ,ܼ ,ߚ,ߙ,ߜ)exp (ݒ − ݑ ) Trong đó, lnY là logarit tự nhiên của đầu ra, có thể là năng suất kg/ha/vụ hoặc sản lượng Trong đó, β, ߙ và ߜ là những tham số cần trong 1 năm. Tương tự ݈݊ ܺ và ݈݊ ܼ lần lượt là ước lượng của mô hình; logarit tự nhiên của các đầu vào thông thường v là sai số ngẫu nhiên độc lập, đồng nhất và và đầu vào có ảnh hưởng đến môi trường. i phân phối chuẩn đối xứng (ݒ ∼ ܰ [0,ߪଶ]), thể Để đo lường hiệu quả môi trường, Reinhard ௩ hiện những tác động nhiễu ngoài tầm kiểm soát et al. (1999, 2000) đã đề xuất cho ݑ bằng 0 và của nông hộ như thời tiết, sự may rủi và những sau đó thay thế tất cả các đầu vào có ảnh hưởng sai số thống kê khác,…; u là sai số ngẫu nhiên, xấu đến môi trường Z trong phương trình (3) i im độc lập và tuân theo phân phối nữa chuẩn (half- bằng ΦZ , trong đó Φ là hiệu quả môi trường, im normal) (ݑ ≥ 0); ݑ ∼ ܰ ା(0,ߪଶ), thể hiện sự được ký hiệu là EE (ܧܧ = ߔ ). Đề xuất này có ௨ không hiệu quả kỹ thuật (technical inefficiency) nghĩa rằng sau khi một nông hộ giảm tất cả của từng nông hộ của mô hình sản xuất. v và u những yếu tố đầu vào có ảnh hưởng xấu đến môi i i là độc lập nhau. trường cũng sẽ đạt được hiệu quả kỹ thuật. Như Như vậy hiệu quả kỹ thuật (TE) của từng vậy, sau khi cho ݑ = 0 và thay thế Z bằng im nông hộ sẽ được tính toán bằng cách nhân ΦZ , phương trình (3) sẽ trở thành: im exp (−ݒ) cho hai vế của phương trình (1), bằng vài phép biến đổi ta được: ݊ܮ ܻ = ߚ + ߚ݈݊ ܺ +ߙ݈݊ Φܼ ݕ exp(−ݒ) + 1ൗ ߚ ݈݊ ܺ ݈݊ ܺ TE୧ = exp(−ݑ) = 2 ݂ (ܺ ,ܼ ,ߚ,ߙ,ߜ) ݕ 1 = + ൗ2 ߙ݈݊ Φܼ ݈݊ Φܼ ݂ (ܺ ,ܼ ,ߚ,ߙ,ߜ)exp(ݒ) Từ phương trình (2) cho ta thấy hiệu quả kỹ + ߜ݈݊ ܺ ݈݊ Φܼ + ݒ thuật trong trường hợp này là hiệu quả định hướng đầu ra, thể hiện khả năng nâng cao năng Do hiệu quả môi trường được định nghĩa là suất đầu ra mà không cần thêm đầu vào (tất cả khả năng giảm các yếu tố đầu vào có ảnh hưởng các đầu vào của quá trình sản xuất) (Aigner, xấu đến môi trường trong khi các đầu vào khác 1977; Farrell, 1957; Jondrow, 1982). và đầu ra cố định. Như vậy đầu ra hay nói cách 1521
コメント (0)
まだコメントはありません。最初のコメントを書きましょう!