Trang 1
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính LỜI CAM ĐOAN Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập. Tác giả luận văn Đinh Thanh Huyền i
Trang 3
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 1 BCĐKT Bảng cân đối kế toán 2 BCTC Báo cáo tài chính 3 DN Doanh nghiệp 4 HTK Hàng tồn kho 5 LNST Lợi nhuận sau thuế 6 LNTT Lợi nhuận trước thuế 7 SXKD Sản xuất kinh doanh 8 TSCĐ Tài sản cố định 9 TSDH Tài sản dài hạn 10 TSLĐ Tài sản lưu động 11 TSNH Tài sản ngắn hạn 12 VCSH Vốn chủ sở hữu 13 VLĐ Vốn lưu động 14 TB Trung bình 15 CTCP Công ty cổ phần iii
Trang 5
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong cơ cấu vốn của DN, nếu vốn cố định được coi là xương sống của một cơ thể thì VLĐ được coi là huyết mạch của cơ thể sống đó. Để tiến hành hoạt động SXKD, DN không thể không có các yếu tố cơ bản là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Vốn của DN nói chung và VLĐ nói riêng có mặt trong mọi khâu hoạt động của DN từ dự trữ, sản xuất cho đến lưu thông. Bởi vậy để hoạt động có hiệu quả và thu được lợi nhuận cao, DN cần phải quan tâm đến vấn đề quản trị VLĐ một cách có hiệu quả. Để quản trị VLĐ có hiệu quả, các DN phải làm gì? Đây là một quá trình nghiên cứu, tìm tòi, phân tích đánh giá tình hình tổ chức mua sắm vật tư, tiến hành sản xuất sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm cũng như tình hình thị trường, tình hình kinh tế xã hội… Để làm tốt điều đó, vấn đề đặt ra cho các DN là phải biết DN thừa hay thiếu vốn, giảm thiểu chi phí sử dụng vốn như thế nào, tình hình sử dụng vốn, quản trị vốn bằng tiền, vốn tồn kho và các khoản phải thu như thế nào… Đây là những vấn đề DN phải giải quyết để nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ. Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi và vận hành theo cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập với nền kinh tế toàn cầu như hiện nay, việc quản trị VLĐ có vai trò ngày càng to lớn hơn nữa. Nếu như VLĐ được sử dụng đúng đắn, uyển chuyển, linh hoạt, phù hợp với những điều kiện, tình hình phát triển của mỗi DN thì sẽ có tác động tích cực tới các mục tiêu kinh tế và giúp DN phát triển mạnh mẽ hơn đưa DN tiến xa trở thành những DN hàng đầu. Mặt khác, VLĐ nếu không được sử dụng một cách thích hợp thì sẽ trở thành vật cản cho sự phát triển của toàn DN. Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị Nam Hà Nội là một công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và có VLĐ chiếm tỉ trọng cao trong nguồn vốn của công ty. Có thể nói, quản trị VLĐ là vấn đề quan trọng và cốt 1
Trang 6
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính lõi của công ty. Nhận thức rõ được vấn đề này, cùng với những kiến thức đã học được tại trường và thực tiễn đã học được qua thời gian thực tập tại Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị Nam Hà Nội, em đã quyết định đi sâu vào nghiên cứu và phân tích VLĐ của công ty. Dưới sự giúp đỡ của thầy Bùi Văn Vần và các anh chị đang làm việc tại công ty, em đã hoàn thành luận văn với đề tài: “Quản trị vốn lưu động tại Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị Nam Hà Nội”. 2. Mục đích nghiên cứu - Nhằm hệ thống hóa và nâng cao trình độ lý luận, tư duy tài chính thực tế cho bản thân em là một sinh viên chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp của Học viện Tài chính. - Phân tích, đánh giá thực trạng quản trị VLĐ tại Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị Nam Hà Nội. - Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả quản trị VLĐ tại Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị Nam Hà Nội. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tình hình thực tế công tác quản trị VLĐ tại Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị Nam Hà Nội. - Phạm vi: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị Nam Hà Nội, dựa trên tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty 2 năm gần nhất 2017, 2018 trên BCĐKT, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và thuyết minh BCTC. 4. Phương pháp nghiên cứu: a. Phương pháp thu thập số liệu: 2
Trang 7
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính - Phương pháp thực nghiệm: Trực tiếp đến đơn vị thực tập tìm hiểu tình hình tài chính cũng như thực trạng quản lý tình hình tài chính của công ty, từ đó thu thập những thông tin liên quan đến đề tài. - Phương pháp thu thập số liệu: Căn cứ vào các số liệu trong quá khứ như BCTC, sổ sách kế toán,… để tìm ra quy luật trong quá khứ, xác định định hướng các biện pháp quản trị của công ty trong tương lai. b, Phương pháp phân tích số liệu - Phương pháp so sánh: So sánh các chỉ tiêu kì này với kì trước, kì thực tế với kì báo cáo, phân tích dựa trên số liệu 2 năm. So sánh theo không gian để biết được vị thế của DN trên thị trường. - Phương pháp phân tích nhân tố: Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố. 5. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Lý luận về quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng quản trị vốn lưu động tại Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị Nam Hà Nội thời gian qua Chương 3: Các giải pháp nhằm tăng cường quản trị vốn lưu động tại Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị Nam Hà Nội Do thời gian thực tập và trình độ nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên luận văn của em chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Em rất mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo, các anh chị phòng Tài chính - Kế toán của công ty để luận văn được hoàn thiện và chất lượng hơn. Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Bùi Văn Vần, Ban lãnh đạo công ty và các anh chị trong phòng Tài chính - Kế toán của Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị Nam Hà Nội đã giúp em hoàn thành luận văn này. 3
Trang 8
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính Hà Nội, 12 tháng 04 năm 2020 Sinh viên thực hiện Đinh Thanh Huyền 4
Trang 9
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1. Vốn lưu động và nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động của doanh nghiệp 1.1.1.1. Khái niệm vốn lưu động Theo luật doanh nghiệp năm 2014, Doanh nghiệp là một tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Để tiến hành sản xuất kinh doanh thì một doanh nghiệp phải có đầy đủ yếu tố: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp 3 yếu tố đó lại để tạo ra hàng hóa dịch vụ cung ứng ra thị trường. Khác với các tư liệu lao động, đối tượng lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch một lần toàn bộ vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi doanh nghiệp bán sản phẩm và thu tiền lại được. Trong quá trình kinh doanh, những đối tượng sản xuất bao gồm những vật tư dự trữ để phục vụ cho quá trình sản xuất liên tục như: TSLĐ sản xuất bao gồm nguyên liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế trong quá trình sản xuất; TSLĐ lưu thông bao gồm các loại tài sản đang nằm trong quá trình lưu thông như thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, các khoản phải thu, vốn bằng tiền. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn luôn vận động, chuyển hóa, thay thế chỗ cho nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra nhịp nhàng, liên tục. Để hình thành các TSLĐ, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định để mua sắm các tài sản đó, số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. Như vậy có thể nói: “Vốn lưu động là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất 5
Trang 10
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính kinh doanh của doanh nghiệp”. Nói cách khác, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của các TSLĐ trong doanh nghiệp. 1.1.1.2. Đặc điểm vốn lưu động của doanh nghiệp Vốn lưu động có tốc độ luân chuyển nhanh do các TSLĐ có thời hạn sử dụng ngắn. Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau khi kết thúc một chu trình sản xuất kinh doanh. Vốn lưu động trong doanh nghiệp có hình thái biểu hiện luôn thay đổi qua các giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Cụ thể, tính tuần hoàn này của VLĐ được thể hiện qua 3 giai đoạn: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông. Tuy nhiên, đối với mỗi doanh nghiệp sản xuấ kinh doanh có tính chất khác nhau thì vốn lưu động của doanh nghiệp được thể hiện theo cách khác nhau theo sơ đồ sau: - Đối với doanh nghiệp sản xuất: T – H…sx… H’ – T’ (T’>T) - Đối với doanh nghiệp thương mại: T – H – T’ - Đối với các tổ chức tín dụng trung gian: T – T’ Nhìn chung, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu trở thành vật tư, hàng hóa dự trữ sản xuất, tiếp đến trở thành sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm và cuối cùng lại trở về hình thái vốn bằng tiền. Kết thúc mỗi chu kỳ kinh doanh, giá trị của vốn lưu động được dịch chuyển toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra và được bù đắp lại khi doanh nghiệp thu được tiền bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Quá trình này diễn ra thường xuyên, liên tục và được lắp lại sau mỗi chu kỳ kinh doanh, tạo thành vòng tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động. Từ sự phân tích trên, ta thấy VLĐ có những đặc điểm sau: - VLĐ chỉ tham gia vào 1 chu kỳ sản xuất 6
Trang 11
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính - VLĐ chuyển hóa toàn bộ giá trị, một lần vào giá trị sản phẩm, hàng hóa và được bù đắp khi DN tiêu thụ được sản phẩm và hàng hóa. - VLĐ tuần hoàn liên tục và hoàn thành vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ SXKD. 1.1.2. Phân loại vốn lưu động của doanh nghiệp Việc phân bổ VLĐ làm sao để mang lại hiệu quả sử dụng cao nhất luôn là vấn đề được các nhà quản trị tài chính của DN đặt lên hàng đầu. Để đạt được mục tiêu này DN phải hiểu về thành phần VLĐ, từ đó tiến hành nghiên cứu thông qua các cách phân loại VLĐ của doanh nghiệp. Thông thường có 1 số cách phân loại chủ yếu sau đây: 1.1.2.1. Dựa vào hình thái biểu hiện của vốn lưu động Theo tiêu thức này, VLĐ trong doanh nghiệp có thể được chia thành hai loại: - Vốn bằng vật tư, hàng hóa: bao gồm vốn nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm, hàng gửi bán, tài sản lưu động khác,… - Vốn bằng tiền và các khoản phải thu: gồm tiền mặt tại các quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản phải thu, các khoản tương đương tiền… Cách phân loại này giúp doanh nghiệp đánh giá được mức độ dự trữ tồn kho, khả năng thanh toán, tính thanh khoản của các tài sản đầu tư trong doanh nghiệp. 1.1.2.2. Dựa vào vai trò của vốn lưu động Theo tiêu thứcphân loại này, vốn lưu động được chia thành 3 loại: - VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất: vốn nguyên nhiên vật liệu chính, vốn phụ tùng thay thế, vốn nhiên liệu, vốn phụ tùng thay thế, vốn vật liệu đóng gói, vốn công cụ dụng cụ. Loại vốn này cần thiết để đảm bảo việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành liên tục. 7
Trang 12
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính - VLĐ trong khâu sản xuất: vốn bán thành phẩm và sản phẩm dở dang, vốn chi phí trả trước. Loại vốn này được dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong dây truyền công nghệ được tiến hành liên tục. - VLĐ trong khâu lưu thông: vốn thành phẩm, vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, vốn đầu tư ngắn hạn. Loại vốn này dùng để dự trữ sản phẩm, đảm bảo cho tiêu thụ thường xuyên, đều đặn theo nhu cầu của khách hàng. Cách phân loại này cho thấy vai trò của từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó lựa chọn bố trí cơ cấu vốn đầu tư hợp lý, đảm bảo sự cân đối về năng lực sản xuất giữa các giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Việc phân loại VLĐ theo cách này giúp cho việc xem xét, đánh giá tình hình phân bổ VLĐ của doanh nghiệp trong từng khâu của quá trình chu chuyển VLĐ. Qua đó, nhà quản trị tài chính sẽ có những biện pháp và chính sách thích hợp nhằm tạo ra một cơ cấu vốn lưu động hợp lý để tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này. 1.1.3. Nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một yếu tố cũng như là tiền đề quan trọng trong việc hình thành và phát triển hoạt động kinh doanh của một DN. Nhằm hiện thực hóa các ý tưởng và kế hoạch kinh doanh tiềm năng, doanh nghiệp nào cũng cần có một nguồn vốn hình thành nên các tài sản cần thiết để doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đã đề ra. Nhằm tổ chức tốt và đáp ứng đầy đủ nhu cầu các nguồn vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng, doanh nghiệp cần cân nhắc lựa chọn các hình thức huy động vốn và tổ chức nguồn vốn một cách hợp lý. Ngoài ra, doanh nghiệp cần nắm rõ được các nguồn hình thành nên vốn lưu động của mình từ đó tạo điều kiện để khai thác tốt nguồn vốn đó. Xét theo thời gian huy động vốn và sử dụng vốn thì nguồn VLĐ được chia thành: Nguồn VLĐ thường xuyên và nguồn VLĐ tạm thời. 8
Trang 13
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính - Nguồn VLĐ thường xuyên (NWC): đây là nguồn vốn có tính chất ổn định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để hình thành nên các TSLĐ thường xuyên cần thiết (có thể là 1 phần hay toàn bộ TSLĐ thường xuyên phụ thuộc vào chiến lược tài chính của từng doanh nghiệp). Nguồn vốn này có thể huy động từ nguồn vốn chủ sở hữu, phát hành trái phiếu dài hạn hoặc có thể vay dài hạn từ các ngân hàng thương mại hay các tổ chức tín dụng. Để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên, liên tục thì ứng với một quy mô kinh doanh nhất định, thường xuyên phải có một lượng TSLĐ nhất định nằm trong các giai đoạn luân chuyển như các tài sản dự trữ về nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm và nợ phải thu khách hàng. Nguồn VLĐ thường xuyên tạo ra mức độ an toàn cho doanh nghiệp trong kinh doanh, làm cho tình trạng tài chính của doanh nghiệp được đảm bảo vững chắc hơn. Nguồn VLĐ thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm được xác định như sau: Nguồn VLĐ thường xuyên = Nguồn vốn dài hạn – Tài sản dài hạn hoặc = Tổng tài sản – Nợ ngắn hạn - Nguồn VLĐ tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này thường bao gồm: Các khoản vay ngắn hạn các ngân hàng và tổ chức tin dụng và các khoản nợ ngắn hạn khác. Nói chung, nguồn VLĐ thường xuyên tạo ra tính an toàn cho Dn trong quá trình HĐSXKD. Về cơ bản, nguồn VLĐ thường xuyên đảm bảo cho VLĐ thường xuyên còn nguồn VLĐ tạm thời đảm bảo nhu cầu cho VLĐ tạm thời. Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp có cách thức phối hợp khác nhau giữa nguồn VLĐ thường xuyên và VLĐ tạm thời trong công việc đảm bảo nhu cầu chung về VLĐ của doanh nghiệp. Vì vậy, việc sử dụng kết hợp 2 nguồn vốn lưu động 9
Trang 14
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính này là cần thiết cà đòi hỏi phải sử dụng sao cho phù hợp, tạo điều kiện cho việc sử dụng linh hoạt nguồn tài chính mà vẫn tiết kiệm được chi phí sử dụng vốn. Cách phân loại trên giúp cho nhà quản trị xem xét, huy động các nguồn phù hợp với thực tế của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và tổ chức nguồn vốn. Mặt khác, đây cũng là cơ sở để lập kế hoạch quản lý và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả lớn nhất với chi phí nhỏ nhất. 1.2. Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp 1.2.1. Khái niệm và mục tiêu quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp 1.1.2.1. Khái niệm Trong nền kinh tế thị trường và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, hoạt động kinh doanh của DN cần có sự linh hoạt, điều chỉnh để thích ứng với môi trường cạnh tranh ngày càng tăng cao. Nhằm tồn tại và phát triển DN cần hoạt động có hiệu quả và sinh lời, do đó các nhà quản trị DN cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh. Việc này đòi hỏi nhà quản trị cần có năng lực và trình độ chuyên môn để phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết định sử dụng nguồn lực và trình độ chuyên môn để phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết định sử dụng nguồn lực trong DN sao cho có lợi nhất. Do đó việc quản trị VLĐ của doanh nghiệp là vô cùng cấp thiết và quan trọng. Trên cơ sở định hướng kết hợp nền tảng lý luận về quản trị tài chính doanh nghiệp được đặt trong mối quan hệ giữa đặc điểm và tính chất của VLĐ trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, chúng ta có thể đư ẩ khái niệm quản trị vốn lưu động như sau: “Quản trị VLĐ là quá trình phân tích, hoạch định, lựa chọn, ra các quyết định, toỏ chức thực hiện song song với việc kiểm soát, điều chỉnh một cách hợp lý các quyết định tài chính ngắn hạn liên quan trực tiếp tới VLĐ trong doanh nghiệp qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như thực hiện các mục tiêu tối đa hóa giá trị cho doanh nghiệp”. 10
Trang 15
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính 1.1.2.2. Mục tiêu quản trị vốn lưu động Thông qua khái niệm về quản trị vốn lưu động, ta có thể thấy rằng hoạt động quản trị VLĐ luôn gắn liền với quyết định tài chính ngắn hạn. Do đó, mục tiêu quản trị VLĐ cũng có sự tương quan mật thiết với yêu cầu của quyết định tài chính ngắn hạn và mục tiêu quản trị tài chính của doanh nghiệp đó là: tối ưu hóa khả năng sinh lời, tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa giá trị. Các mục tiêu quản trị vốn lưu động không tách biệt mà có sự bổ sung hoàn thiện cho nhau. Cụ thể, các nhà quản trị DN muốn đạt được các mục tiêu về quản trị VLĐ sau: Thứ nhất, phải đảm bảo đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu VLĐ cho sản xuất kinh doanh. Quá trình sản xuất kinh doanh nhất thiết đòi hỏi có tài sản lưu độn và từ đó phát sinh nh cầu về VLĐ để đảm bảo các tài sản đó. Việc chậm trễ hay không đáp ứng đủ nhu cầu VLĐ cần thiết gây nên nhiều hệ lụy trong sản xuất kinh doanh như sản xuất đình trệ, gián đoạn quy trình. Thứ hai, đó là tăng tốc độ luân chuyển vốn để đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm hiệu quả. Tốc độ luân chuyển của VLĐ gắn liền với sự quay vòng của chu kỳ kinh doanh. Vốn quay vòng càng nhanh thì càng tăng hiệu suất sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ ba, đó là tìm các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu suất sử dụng VLĐ. 1.2.2. Nội dung quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp 1.2.2.1. Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp và tổ chức nguồn vốn lưu động Vốn lưu động đóng vai trò quan trọng trong quá trình SXKD của doanh nghiệp. Chính vì vậy, để tồn tại và phát triển thì DN cần phải có những chính sách và kế hoạch làm sao để quản lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn vốn VLĐ. Muốn đạt được mục tiêu này, trước hết các nhà quản trị DN cần xác định đúng nhu cầu VLĐ của công ty trong từng thời kì, từ đó lấy làm căn cứ để huy động và sử dụng vốn. 11
Trang 16
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính a. Xác định nhu cầu vốn lưu động Nhằm đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra thường xuyên liên tục, quá trình này luôn đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn lưu động cần thiết để đáp ứng nhu cầu cần thiết ngắn hạn của doanh nghiệp. Đó chính là nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết của doanh nghiệp. Như vậy, nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết là số vốn lưu động tối thiểu cần thiết phải có để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường liên tục. Dưới mức này, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ khó khăn, thậm chí bị đình trệ, gián đoạn. Nhưng nếu trên mức cần thiết lại gây nên tình trạng ứ đọng vốn, sử dụng vốn lãng phí, kém hiệu quả. Chính vì vậy trong quản trị VLĐ, các doanh nghiệp cần chú trọng xác định đúng đắn nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết, phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp. Với quan niệm nhu cầu VLĐ là số vốn tối thiểu, thường xuyên cần thiết nên nhu cầu vốn lưu động được xác định theo công thức: Nhu cầu vốn Mức dự trữ Khoản phải thu Khoản phải trả = + - lưu động hàng tồn kho từ khách hàng nhà cung cấp Theo đó, nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: quy mô kinh doanh; đặc điểm tính chất các ngành nghề kinh doanh; sự biến động của giá cả hàng hóa, vật tư đầu vào; trình độ tổ chức, quản lý sử dụng VLĐ của DN; các chính sách của DN trong việc tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm dịch vụ… Việc xác định đúng các nhân tố ảnh hưởng sẽ giúp DN xác định chính xác nhu cầu VLĐ từ đó có biện pháp quản lý, sử dụng một cách tiết kiệm, hiệu quả. Hiện nay, có 2 phương pháp để xác định nhu cầu VLĐ: phương pháp trự tiếp và phương pháp gián tiếp. 12
Trang 17
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính ❖ Phương pháp trực tiếp: Nội dung của phương pháp này là xác định trực tiếp nhu cầu vốn cho HTK, các khoản thu, các khoản phải trả nhà cung cấp rồi tổng hợp lại thành tổng cầu vốn lưu động của DN. Xác định nhu cầu vốn HTK bao gồm vốn HTK trong các khâu dự trữ sản xuất, khâu sản xuất và khâu lưu thông. Theo đó: - Nhu cầu VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm nhu cầu vốn dự trữ nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế. Phương pháp chung để xác định nhu cầu VLĐ đối với từng loại vật tư dự trữ là căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn bình quân một ngày và số ngày dự trữ với từng loại để xác định rồi tổng hợp lại. - Nhu cầu VLĐ dự trữ trong khâu sản xuất bao gồm nhu cầu để hình thành các sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, chi phí sản xuất bình quân 1 ngày, độ dài chu kì sản xuất sản phẩm, mức độ hoàn thành của sản phẩm dở, bán thành phẩm, các khoản chi phí trả trước. Nhu cầu này nhiều hay ít phụ thuộc vào chi phí sản xuất bình quân một ngày, độ dài chu kì sản xuất sản phẩm, mức độ hoàn thành của sản phẩm ở, bán thành phẩm. - Nhu cầu vốn lưu động dự trữ trong khâu lưu thông bao gồm vốn dự trữ thành phẩm, vốn phải thu và phải trả. Trong đó: + Nhu cầu vốn thành phẩm: là số vốn tối thiểu dùng để hình thành lượng dự trữ thành phẩm tồn kho, chờ tiêu thụ. + Xác định nhu cầu vốn nợ phải thu: Nợ phải thu là khoản vốn vị khách hàng chiếm dụng hoặc do công ty chủ động bán chịu hàng hóa cho khách hàng theo chính sách bán hàng. Do vốn đã bị khách hàng chiếm 13
Trang 18
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính dụng nên để quá trình hoạt động SXKD không bị gián đoạn và diễn ra bình thường, doanh nghiệp phải bỏ thêm VLĐ vào quá trình này. + Xác định khả năng nguồn vốn nợ phải trả cho nhà cung cấp: Nợ phải trả là khoản vốn DN mua chịu hàng hóa hay chiếm dụng của khách hàng. Các khoản nợ phải trảd được coi như khoản tín dụng bổ sung từ khách hàng nên DN có thể rút bớt 1 phần VLĐ của mình trong quá trình sản xuất kinh doanh để dùng vào việc khác. → Phương pháp này giúp doanh nghiệp làm rõ được nhu cầu vốn lưu động cho từng loại vật tư hàng hóa trong từng khâu kinh doanh, do đó việc dự đoán nhu cầu vốn lưu động theo phương pháp này sẽ tương đối sát với nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc tính toán lại khá phức tạp vì khối lượng tính toán nhiều và mất thời gian, nhất là đối với các doanh nghiệp sử dụng nhiều loại vật tư trong sản xuất và có các chính sách tín dụng khách hàng, tín tín dụng nhà cung cấp thường xuyên thay đổi. ❖ Phương pháp gián tiếp Phương pháp xác định nhu cầu VLĐ gián tiếp dự vào phân tích tình hình thực tế sử dụng VLĐ của doanh nghiệp năm báo cáo, sự thay đổi về quy mô kinh doanh và tốc độ luân chuyển VLĐ của năm kế hoạch, hoặc sự biến động nhu cầu VLD theo doanh thu thực hiện năm báo cáo để xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp năm kế hoạch. Phương pháp này bao gồm 3 phương pháp cụ thể sau: * Phương pháp điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm nhu cầu VLĐ so với năm báo cáo 14
Trang 19
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính Thực chất, phương pháp này dựa vào thực tế nhu cầu VLĐ năm báo cáo và điều chỉnh nhu cầu VLĐ của năm kế hoạch theo quy mô kinh doanh và tốc độ luân chuyển. Công thức tính toán như sau: 𝑀𝑘ℎ 𝑉𝑘ℎ = 𝑉𝑏𝑐 × × (1 + 𝑡%) 𝑀𝑏𝑐 Trong đó: Vkh : VLĐ năm kế hoạch Vbc : VLĐ năm báo cáo Mkh : Mức luân chuyển VLĐ năm kế hoạch Mbc : Mức luân chuyển VLĐ năm báo cáo t% : tỷ lệ rút ngắn kì luân chuyển VLĐ năm báo cáo * Phương pháp dựa vào tổng mức luân chuyển vốn và tốc độ luân chuyển vốn năm kế hoạch Phương pháp này xác định nhu cầu VLĐ dựa trên tổng mức luân chuyển VLĐ (doanh thu thuần) và tốc độ luân chuyển VLĐ dự tính của năm kế hoạch theo công thức sau: 𝑀𝑘ℎ 𝑉𝑘ℎ = 𝐿𝑘ℎ Trong đó: Mkh : Mức luân chuyển VLĐ năm kế hoạch (doanh thu thuần) Lkh : Số vòng quay VLĐ năm kế hoạch 15
Trang 20
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính *Phương pháp dựa vào tỷ lệ phần trăm trên doanh thu Nội dung phương pháp này dựa vào sự biến động theo tỷ lệ trên doanh thu của các yếu tố cấu thành VLĐ của doanh nghiệp năm báo cáo để xác dịnh nhu cầu VLĐ theo doanh thu dự kiến năm kế hoạch. Theo đó, phương pháp này tiến hành theo 4 bước cụ thể: Bước 1: Tính số dư bình quân của các khoản mục trong bản kế toán kỳ thực hiện. Bước 2: Lựa chọn các khoản mục TSNH và các nguồn vốn chiếm dụng trong bảng cân đối kế toán chịu sự tác động trực tiếp và có quan hệ chặt chẽ với doanh thu và tỷ lệ phần trăm của các khoản mục đó so với doanh thu thực hiện trong kỳ. Bước 3: Sử dụng tỷ lệ phần trăm của các khoản mục trên doanh thu để ước tính nhu cầu VLĐ tăng thêm cho năm kế hoạch trên cơ sở doanh thu dự kiến của năm kế hoạch Nhu cầu VLĐ tăng thêm = Doanh thu tăng thêm × Tỷ lệ % nhu cầu VLĐ so với DT Doanh thu tăng thêm = Doanh thu kì kế hoạch - Doanh thu kỳ báo cáo Tỷ lệ nhu cầu VLĐ so = Tỷ lệ % TSLĐ với DT - Tỷ lệ % nguồn vốn với doanh thu chiếm dụng so với DT Bước 4: Dự báo nguồn tài trợ VLĐ tăng thêm cho công ty và thực hiện điều chỉnh kế hoạch tài chính nhắm đạt được mục tiêu của công ty. 16
Showing the first 20 pages. Download the document to see it all.
Comments (0)
No comments yet. Be the first!