[Luận văn-Chương 3] Tổ chức công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ tại Công ty CP DV và TM Mai Phương - TG.Phạm Văn Mạnh

NG
Nguyen Le Giang
0 downloads
125
0

Document content

Trang 1

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp CHƯƠNG 3 TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ VÀ THƯƠNG MẠI MAI PHƯƠNG Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 2

Trang 2

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp 3.1. Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ trong Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Mai Phương Mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi doanh nghiệp tìm mọi biện pháp quản lý hữu hiệu, trong đó kế toán có vai trò là một công cụ quan trọng của quản lý. Căn cứ vào các thông tin do kế toán cung cấp mà các nhà quản lý mới đưa ra quyết định đúng đắn có ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thương mại dịch vụ là hoạt động phân phối hàng hóa trên thị trường buôn bán trong quốc gia riêng biệt và giữa các quốc gia với nhau, nó là kênh trung gian vô cùng quan trọng trong việc lưu thông hàng hóa từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng. Nó là một ngành kinh tế độc lập trong cơ cấu kinh tế, tách biệt với các lĩnh vực sản xuất. Quá trình kinh doanh thương mại gồm ba giai đoạn: mua hàng vào, dự trữ và tiêu thụ không qua khâu chế biến làm thay đổi hình thái vật chất của hàng hóa. Như vậy hoạt động tiêu thụ là khâu cuối cùng có tính chất quyết định cả quá trình kinh doanh. Nó đóng vai trò thúc đẩy để các doanh nghiệp sản xuất thu hồi và quay vòng vốn nhanh. Do đó, các doanh nghiệp thương mại ngày càng phát triển là động lực thúc đẩy kinh doanh được mở rộng. Muốn hoạt động tiêu thụ diễn ra một cách thuận lợi, mỗi doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh hợp lý. Bên cạnh đó, tổ chức công tác kế toán tốt là một trong những yếu tố tạo nên sự hiệu quả. Việc đánh giá cao vai trò của công tác kế toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả kinh doanh tạo điều kiện cung cấp thông tin chính xác và kịp thời cho các nhà quản lý để họ có thể đưa ra những chiến lược kinh doanh và marketing phù hợp, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ, song với mỗi loại hình Doanh nghiệp, với mỗi điều kiện môi trường và lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau thì yêu cầu đặt ra cũng khác nhau. Mặt khác, cùng với sự phát triển và biến đổi không ngừng của nền kinh tế, những vấn đề về kế toán tiêu thụ cũng luôn thay đổi. Đối với Công ty Cổ phần thương mại và dịch vụ Mai Phương , tiêu thụ là căn cứ quan trọng để Công ty xây dựng kế hoạch sản xuất đối với từng loại sản phẩm. Mặt khác, việc xác định đúng đắn kết quả tiêu thụ cũng là một vấn đề cần quan tâm vì nó là mục đích hoạt động của Công ty. Do đó, để hiểu rõ được hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty có hiệu quả hay không, hiệu quả đó cao hay thấp, cần thiết phải “ Tổ chức công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần dịch vụ thương mại Mai Phương ”. 3.2. Mục địch, đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu của chuyên đề Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 3

Trang 3

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp 3.2.1. Mục đích nghiên cứu Thông qua việc phản ánh thực trạng công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần dịch vụ và thương mại Mai Phương . Qua đó, đánh giá và đưa ra các nhận xét về ưu, nhược điểm của công tác kế toán nói chung và công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh nói riêng. Từ đó, đề xuất đề xuất một số kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện công tác kế toán nói chung và công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh nói riêng 3.2.2. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là công tác hạch toán kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần dịch vụ và thương mại Mai Phương. 3.2.3. Nội dung nghiên cứu Với mục đích và đối tượng nghiên cứu như trên nội dung nghiên cứu của chuyên đề gồm các vấn đề lớn sau: - Cơ sở lý luận chung về công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp. - Thực trạng về công tác tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phần dịch vụ và thương mại Mai Phương - Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần thương mại và dịch vụ Mai Phương . 3.2.4. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp thống kê tổng hợp số liệu theo đối tượng và nội dung của công tác kế toán, theo chuẩn mực kế toán và chế dộ kế toán. - Phương pháp xử lý, phân tích số liệu thu thập được. - Phương pháp đánh giá. - Phương pháp mô hình hóa. - Phương pháp hạch toán kế toán. 3.3. Cơ sở lý luận về công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết qủa kinh doanh trong doanh nghiệp 3.3.1. Khái niệm, phân loại, ý nghĩa, đặc điểm của kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp 3.3.1.1. Một số khái niệm cơ bản 1. Tiêu thụ hàng hóa Hàng hóa: là những vật phẩm doanh nghiệp mua về để bán phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 4

Trang 4

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp Tiêu thụ hàng hóa: Là việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa gắn với phần lợi ích hoặc rủi ro khách hàng, đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Đây là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh. Thông qua tiêu thụ mà giá trị sử dụng được thực hiện, chuyển hóa vốn từ hình thái “hiện vật” sang hình thái “tiền tệ”. Doanh nghiệp thu hồi được vốn bỏ ra và vòng luân chuyển vốn được hoàn thành, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn nói riêng và hiệu quả sử dụng vốn nói chung. Góp phần thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội nói chung, đồng thời góp phần thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Tình hình tiêu thụ phản ánh năng lực kinh doanh và vòng tiêu thụ của doanh nghiệp trên thị trường. Tiêu thụ nói chung gồm hai lĩnh vực: Tiêu thụ ra ngoài đơn vị: Là việc bán hàng cho các đơn vị khác và các cá nhân khác ngoài doanh nghiệp. Tiêu thụ nội bộ: Là việc bán hàng cho các đơn vị, doanh nghiệp tuỳ thuộc cho một công ty và doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế với Nhà nuớc theo pháp luật quy định. 2. Doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu a. Doanh thu và điều kiện ghi nhận doanh thu Doanh thu: Là biểu hiện tổng lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu đuợc trong kỳ kế toán, góp phần làm tăng nguồn vốn chủ hữu. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không đuợc coi là doanh thu. Tuỳ theo từng loại sản xuất kinh doanh mà doanh thu bao gồm: - Doanh thu bán hàng. - Doanh thu cung cấp dịch vụ. - Doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, các hoạt động lợi tức đuợc chia. Đối với doanh thu bán hàng, nếu doanh nghiệp áp dụng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì doanh thu không bao gồm thuế GTGT, nếu doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng là giá trị số hàng đã bán được. Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm người mua trả tiền cho người bán hoặc người mua chấp nhận thanh toán số hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ…mà người bán đã chuyển giao Các điều kiện ghi nhận doanh thu: - Doanh nghiệp đã trao đổi phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua. Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 5

Trang 5

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp - Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa. - Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. - Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động giao dịch, bán hàng. - Xác định chi phí liên quan đến giá bán hàng. Doanh thu thuần: Là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng và các khoản trừ doanh thu ( khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp ). b. Các khoản giảm trừ doanh thu Các khoản giảm trừ doanh thu được phản ánh bao gồm: Chiết khấu thương mại, hàng bán bị trả lại và các khoản giảm giá cho người bán, các khoản thuế GTGT nộp theo phương pháp trực tiếp, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng hóa dịch vụ bán ra trong kỳ hạch toán. Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua với khối lượng lớn. Chỉ phản ánh vào nôi dung này các khoản chiết khấu thương mại khi bán hàng được ghi trên hóa đơn hoặc các chứng từ khác liên quan đến bán hàng. Giá trị hàng bán trả lại: Là khối lượng hàng bán đã xác định là đã bán bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. Giá trị của hàng bán bị trả lại đúng bằng đơn giá ghi trên hóa đơn. Trường hợp bị trả lại một phần số hàng hóa đã bán thì chỉ phản ánh trị giá của số hàng bán bị trả lại đúng bằng số lượng hàng bán bị trả lại nhân với đơn giá ghi trên hóa đơn, các chi phí khác mà doanh nghiệp phải chi liên quan đến hàng bán bị trả lại được phán ánh vào chi phí quản lý kinh doanh. Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng bán kém chất lượng, sai quy cách theo quy định trong hợp đồng kinh tế hoặc lạc hậu thị hiếu. Chỉ phản ánh nội dung này các khoản giảm trừ do việc chấp thuận giảm giá ngoài hóa đơn tức là giảm giá sau khi phát hành hóa đơn. Không phán ánh vào nội dung này số giảm giá đã được ghi trên hóa đơn và được trừ vào tổng giá trị hàng bán ghi trên hóa đơn. Thuế GTGT nộp theo phương pháp trực tiếp, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt: Đây là các khoản thuế gián thu, tính trên doanh thu bán hàng. Các khoản thuế này tính cho tiêu dùng hàng hóa dịch vụ. Các cơ sở kinh doanh chỉ là nơi nộp hộ thuế cho người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. 3. Giá vốn hàng bán Lợi nhuận tối đa là mục tiêu của doanh nghiệp vì thế doanh nghiệp cần quản lý chặt chẽ vốn kinh doanh, sử dụng tiết kiệm mà hiệu quả vốn của mình. Muốn làm tốt Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 6

Trang 6

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp điều này cần xác định chính xác số vốn đã bỏ ra. Giá vốn hàng bán là một phần chiếm tỷ trọng lớn trong các khoản mục chi phí phát sinh trong một kỳ kinh doanh. Muốn quản lý chặt chẽ và sử dụng hiệu quả sử dụng giá vốn cần tìm hiểu sự hình thành của giá vốn. Sự hình thành của giá vốn bán hàng được phân biệt trong từng công đoạn của quá trình kinh doanh. Giá vốn hàng bán tại thời điểm mua hàng: Là số tiền thực tế phải trả cho người bán. Nếu doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì giá mua thực tế là giá mua ghi trên hóa đơn không bao gồm thuế trừ đi các khoản giảm trừ (nếu có). Nếu doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì giá mua thực tế là giá mua bao gồm thuế GTGT trừ đi các khoản giảm trừ (nếu có). Giá vốn hàng nhập kho: Là giá mua hàng thực tế tại thời điểm mua hàng cộng thêm các khoản chi phí phát sinh trong quá trình mua hàng: chi phí vận chuyển, chi phí nhập kho, thuế nhập khẩu (nếu có). Giá của hàng hóa xuất kho để bán: Là trị giá mua thực tế của hàng hóa đã nhập kho cộng các khoản chi phí thu mua phân bổ cho hàng hóa đó. 4. Chi phí bán hàng Chi phí bán hàng là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình bán hàng hóa, cung cấp sản phẩm, dịch vụ. 5. Chi phí quản lý doanh nghiệp Chi phí quản lý doanh nghiệp là toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và quản lý điều hành chung trong toàn doanh nghiệp. 6. Xác định kết quả tiêu thụ Kết quả tiêu thụ là khoản chênh lệch giữa doanh thu bán hàng với các khoản chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình bán hàng. Trong doanh nghiệp thương mại thì kết quả bán hàng kết quả chính tạo nên lợi nhuận của doanh nghiệp, thông qua việc xác định kết quả bán hàng, doanh nghiệp có thể biết được hiệu quả kinh doanh của mình, khả năng cạnh tranh của từng sản phẩm, để có thể hoạch định các phương án kinh doanh có hiệu quả hơn. Kết quả kinh doanh: Là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh sau một thời kỳ nhất định, được hiểu bằng tiền lãi hoặc lỗ. 3.3.1.2 Phương thức tiêu thụ hàng hóa Trong kinh doanh bán hàng hóa có nhiều phương thức tiêu thụ, phương thức thanh toán và đối với mỗi doanh nghiệp lại có một cách tính giá hàng hóa xuất kho khác nhau phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. a. Bán hàng trong nước: Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 7

Trang 7

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp ❖ Bán hàng theo phương thức bán buôn: Bán buôn hàng hóa là phương thức bán hàng chủ yếu của các đơn vị thương mại, các doanh nghiệp sản xuất… để thực hiện bán ra hoặc để gia công chế biến. Đặc điểm của hàng bán buôn là hàng hóa vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông, chưa đưa vào lĩnh vực tiêu dùng, do vậy giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa chưa được thực hiện. Hàng hóa thường được bán buôn theo lô hoặc được bán với số lượng lớn, giá biến động tùy thuộc khối lượng hàng bán và phương thức thanh toán. Trong bán buôn thường bao gồm 2 phương thức: ➢ Bán buôn hàng hóa qua kho: Bán buôn hàng hóa qua kho là phương thức bán buôn hàng hóa mà trong đó hàng phải được xuất từ kho bảo quản của doanh nghiệp. Bán buôn hàng hóa qua kho có thể thực hiện dưới 2 hình thức: ➢ Bán buôn hàng hóa qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo hình thức này, bên mua cử đại diện đến kho của bên bán để nhận hàng. Doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hóa, giao trực tiếp cho đại diện bên mua. Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, thanh toán tiền hoặc chứng nhận nợ, hàng hóa được xác định là tiêu thụ. ➢ Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, căn cứ vào hợp đồng đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hóa, dùng phương tiện của mình hoặc đi thuê ngoài, chuyển hàng đến kho của bên mua hoặc một địa điểm mà bên mua quy định trong hợp đồng. Hàng hóa chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của bên doanh nghiệp thương mại, chỉ khi nào được bên mua kiểm nhận, thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì số hàng chuyển giao mới được coi là tiêu thụ, người bán quyền sở hữu số hàng đã giao. Chi phí vận chuyển do doanh nghiệp thương mại chịu hay bên mua chịu là do sự thỏa thuận từ trước giữa 2 bên. Nếu doanh nghiệp thương mại chịu chi phí vận chuyển, sẽ được tính vào chi phí bán hàng. Nếu bên mua chịu chi phí vận chuyển, sẽ phải thu tiền của bên mua. ➢ Bán buôn vận chuyển thẳng: Doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua không đưa về nhập kho mà chuyển bán thẳng cho bên mua. Phương thức này có thể thực hiện theo hai hình thức: Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 8

Trang 8

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp - Bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp. Doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, giao trực tiếp cho đại diện của bên mua tại kho người bán. Sau khi giao, nhận, đại diện bên mua ký nhận đủ hàng bên mua đã thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ, hàng hóa được xác nhận là tiêu thụ. - Bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng. Theo hình thức chuyển hàng này, doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng nhận hàng mua, dùng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài vận chuyển hàng đến giao cho bên mua ở địa điểm đã được thỏa thuận. Hàng hóa chuyển bán trong trường hợp này vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại. Khi nhận tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã được nhận hàng và chấp nhận thanh toán thì hàng hóa chuyển đi mới được xác định là tiêu thụ. ❖ Bán lẻ: Bán lẻ hàng hóa là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, các đơn vị kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ. Bán hàng theo phương thức này có đặc điểm là hàng hóa đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa đã được thực hiện. Bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc số lượng nhỏ, giá bán thường ổn định. ❖ Bán hàng theo phương thức gửi đại lý: Theo phương thức này, doanh nghiệp giao hàng cho cơ sở nhận đại lý để các cơ sở này trực tiếp bán hàng, sau khi bán được hàng cơ sở đại lý thanh toán tiền hàng cho doanh nghiệp và được hưởng một khoản tiền gọi là tiền hoa hồng đại lý. ❖ Bán hàng theo phương thức trả góp, trả chậm: Theo phương thức này, doanh nghiệp dành cho người mua ưu đãi là được trả trong nhiều kỳ, doanh nghiệp được hưởng thêm một khoản chênh lệch giữa giá trả góp và giá trả ngay và được gọi là lãi trả góp, và khoản lãi này sẽ được phân bổ dần vào trong các kỳ và được coi là doanh thu tài chính. b. Bán hàng ngoài nước (xuất khẩu). ❖Xuất khẩu trực tiếp: Là hình thức mà các doanh nghiệp thuộc các tỉnh, thành phố đủ điều kiện cần thiết và được nhà nước và bộ thương mại cấp phép cho xuất khẩu trực tiếp. Theo đó, các đơn vị tham gia xuất khẩu có thể trực tiếp đàm phán, ký hợp đồng với nước ngoài, trực tiếp giao hàng, nhận tiền hàng. Các doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp trên cơ sở tự Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 9

Trang 9

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp cân đối về tài chính, có quyền tự tìm kiếm về bạn hàng, định đoạt giá cả, lựa chọn phương thức thanh toán, thị trường, phạm vi kinh doanh nhưng trong khuôn khổ quản lý chính sách xuất nhập khẩu của nhà nước. ❖ Xuất khẩu ủy thác: Là hình thức mà doanh nghiệp chưa đủ điều kiện để nhà nước và bộ thương mại cấp giấy phép xuất khẩu trực tiếp. Theo hình thức này, doanh nghiệp không trực tiếp đàm phán với người nước ngoài mà phải nhờ qua đơn vị xuất nhập khẩu có uy tín thực hiện hoạt động xuất khẩu cho mình. Đặc điểm xuất khẩu ủy thác là do 2 bên tham gia hoạt động xuất khẩu: Bên giao ủy thác xuất khẩu (bên ủy thác) là do doanh nghiệp cung cấp hàng hóa dịch vụ. Bên nhận ủy thác xuất khẩu: Là bên thay mặt doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ và ký kết hợp đồng với bên nước ngoài. Hợp đồng này thông qua “ hợp đồng ủy thác” và chịu sự điều chỉnh của luật kinh doanh trong nước. Các phương thức thanh toán: Việc quản lý hoạt động thanh toán giữ vai trò quan trọng trong bán hàng. Chỉ khi quản lý tốt nghiệp vụ thanh toán doanh nghiệp mới tránh được những tổn thất về tiền hàng, giúp doanh nghiệp không bị chiếm dụng vốn, tạo điều kiện tăng vòng quay của nguồn vốn, giữ uy tín với khách hàng. Hiện nay, các doanh nghiệp thương mại áp dụng một số phương thức thanh toán sau: ➢ Thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt: Đây là hình thức thanh toán trực tiếp giữa người bán và người mua. Khi đi mua hàng, có thể bên mua nhận hàng rồi thanh toán, hoặc nhận nợ rồi xuất quỹ đi thanh toán cho người bán. ➢ Thanh toán qua ngân hàng: Theo phương thức này, ngân hàng sẽ đóng vai trò trung gian trong việc thực hiện chuyển tiền từ tài khoản của doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác hoặc bù trừ lẫn nhau khi được yêu cầu của các bên tham gia mua bán. Trong phương thức này có nhiều cách thanh toán như: - Thanh toán bằng ủy nhiệm chi. - Thanh toán bằng séc. - Thanh toán bù trừ. - Thanh toán bằng thẻ tín dụng. 3.3.1.3 Ý nghĩa, vai trò của tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ. Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 10

Trang 10

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp Kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ là khâu quan trọng, nó phản ánh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp qua các con số thể hiện chất lượng của hoạt động đó. Kết quả bán hàng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, là cơ sở hình thành doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp, tạo điều kiện để bù đắp chi phí, bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh. Hoạt động tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa trong doanh nghiệp có thể được thực hiện theo phương pháp khác nhau như: bán trực tiếp tại kho, chuyển hàng theo hợp đồng, bán hàng thông qua các đại lý… Về nguyên tắc, kế toán sẽ ghi nhận nghiệp vụ tiêu thụ vào sổ sách kế toán khi nào doanh nghiệp không còn quyền sở hữu về thành phẩm nhưng bù lại được quyền sở hữu về tiền do khách hàng thanh toán hoặc quyền được đòi tiền. Kế toán xác định kết quả tiêu thụ tập hợp các chi phí phát sinh trong kỳ liên quan đến việc mua bán hàng hóa của doanh nghiệp…bao gồm cả các khoản thuế GTGT, thuế nhập khẩu, xuất khẩu, tiêu thụ đặc biệt… Đối với doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thương mại nói riêng, kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ có vai trò quan trọng bởi nó là cơ sở để cung cấp thông tin về tình hình bán hàng , xác định kết quả tiêu thụ, kết quả kinh doanh. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác bán hàng, từng bước giảm thiểu thất thoát, phát hiện hàng hóa chậm luân chuyển để kịp thời có biện pháp xử lý, thúc đẩy quá trình tuần hoàn vốn. Như vậy, ta có thể thấy được tầm quan trọng của kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ trong doanh nghiệp. Đây là cơ sở để nhà nước điều tiết vĩ mô, lập kế hoạch phát triển cho nền kinh tế. Các báo cáo tài chính sau một niên độ kế toán được lập trên cơ sở của một kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ không chỉ cung cấp thông tin cho các đối tượng trong doanh nghiệp mà các đối tượng khác quan tâm đến doanh nghiệp như các nhà đầu tư, nhà cung cấp khách hàng. 3.3.2 Các chuẩn mực kế toán và chế độ chính sách về công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ trong doanh nghiệp 3.3.2.1 Các chuẩn mực kế toán áp dụng Để phục vụ cho quá trình hạch toán tiêu thụ và xác định kết quả sản xuất kinh doanh được thuận lợi, đúng trình tự và hợp pháp, Bộ tài chính đã ban hành các chuẩn mực về kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam như sau: - Luật kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17/06/2003 - Chuẩn mực số 14: Doanh thu và thu nhập khác (Ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng BTC). Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 11

Trang 11

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp Chuẩn mực này quy định hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác là cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính. - Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 218/2014/NĐ-CP ngày 26/12/2014 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp - Luật thuế GTGT số 31/2013/QH13 - Thông tư 126/2014/TT-BTC quy định một số thủ tục kê khai, thu nộp thuế, tiền nộp châm, tiền phạt và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất nhập khẩu. - Thông tư 156/2013 /TT-BTC hướng dẫn quản lý thuế -Thông tư 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014 thay thế Quyết định số 15/QĐ/BTC ngày 20/12/2006 của Bộ Tài chính, Nội dung ban hành “Chế độ kế toán doanh nghiệp” mới. Công ty Cổ phần dịch vụ và thương mại Mai Phương áp dụng chế độ kế toán kép và phù hợp với quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam các quy định hiện hành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ theo QĐ 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006. 3.3.2.2 Một số chính sách kế toán áp dụng ❖ Nguyên tắc ghi nhận các khoản tiền và khoản tương đương tiền. Nguyên tắc ghi nhận các khoản tiền: Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. Nguyên tắc xác định các khoản tương đương tiền: Gồm tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn. Nguyên tắc và phương pháp chuyển đổi các đồng tiền khác ra đồng tiền sử dụng trong kế toán: hạch toán theo tỷ giá giao dịch hiện thực. Số dư cuối kỳ được đánh giá theo tỷ giá ngoại tệ giao dịch liên ngân hàng được công bố tới thời điểm 31/12 hàng năm. ❖ Nguyên tắc ghi nhận hàng tồn kho: Nguyên tắc ghi nhận hàng tồn kho: số lượng và giá trị Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho: Giá trung bình Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Phương pháp kê khai thường xuyên. ❖ Nguyên tắc ghi nhận và khấu hao tài sản cố định. Nguyên tắc ghi nhận TSCĐ (hữu hình, vô hình, thuê tài chính): Theo nguyên giá. Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 12

Trang 12

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp Phương pháp khấu hao TSCĐ (hữu hình, vô hình, thuê tài chính): Theo phương pháp đường thẳng. ❖ Nguyên tắc ghi nhận doanh thu. Nguyên tắc ghi nhận doanh thu bán hàng: Đã giao cho khách hàng, đã phát hóa đơn được khách hàng chấp nhận thanh toán. Nguyên tắc ghi nhận doanh thu cung cấp dịch vụ: Đã cung cấp dịch vụ cho khách hàng, đã phát hành hóa đơn được khách hàng chấp nhận thanh toán. Nguyên tắc ghi nhận doanh thu từ hoạt động tài chính: Lãi tiền gửi ngân hàng được thông báo về lãi tiền gửi hàng tháng của ngân hàng. ❖ Nguyên tắc và phương pháp ghi nhận chi phí tài chính: Những khoản chi phí tài chính bao gồm các khoản chi phí hoặc các khoản lỗ liên quan đến hoạt động tài chính, chi phí đi vay, các khoản lỗ tỷ giá hối đoái được ghi nhận khi có phát sinh thực tế. ❖ Nguyên tắc ghi nhận các khoản thuế: Tài sản thuế và các khoản thuế phải nộp cho năm hiện hành và các năm trước được xác định bằng số tiền dự kiến phải nộp cho cơ quan thuế, dựa trên các mức thuế suất và các luật thuế có hiệu lực đến hết ngày kết thúc kỳ kế toán năm 3.3.3. Yêu cầu và nhiệm vụ của kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ 3.3.3.1. Yêu cầu của kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ Kế toán trong doanh nghiệp là một công cụ quản lý, là khoa học thu thập xử lý và cung cấp thông tin về các hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả tiêu thụ là một trong những khâu quan trọng quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Để thực hiện tốt công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ, kế toán cần thực hiện tốt một số yêu cầu sau: - Nắm chắc sự vận động của tổng loại hàng hóa trong quá trình nhập, xuất và tồn kho trên các chỉ tiêu về số lượng, chất lượng, giá trị. - Nắm bắt, theo dõi chặt chẽ phương thức bán, trong phương thức thanh toán, từng loại hàng hóa bán ra và từng khách hàng. - Tính toán và xác định đúng đắn kết quả từng loại hàng hóa. - Tổ chức hệ thống chứng từ ban đầu và trình tự luân chuyển chứng từ hợp lý. Sử dụng các chứng từ hợp pháp, luân chuyển chứng từ khoa học, họp lý, tránh trùng lặp, bỏ sót, đảm bảo yêu cầu quản lý để nâng cao hiệu quả công tác kế toán. Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 13

Trang 13

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp - Xác định đúng và tập hợp đầy đủ chi phí phát sinh trong khâu tiêu thụ và khâu quản lý doanh nghiệp, kết chuyển đúng giá trị vốn hàng bán để xác định kết quả tiêu thụ. 3.3.3.2. Nhiệm vụ của kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ Tiêu thụ có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp. Do đó, kế toán tiêu thụ cũng có vai trò đặc biệt quan trọng. Vì vậy, để hoàn thành tốt trách nhiệm của mình thì kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ sau: - Phân bổ hợp lý chi phí thu mua hàng cho lượng hàng đã bán và tồn cuối kỳ. - Phản ánh kịp thời khối lượng hàng bán, ghi nhận doanh thu tiêu thụ và các chỉ tiêu liên quan khác của khối lượng hàng bán (giá vốn hàng bán, doanh thu thuần…). - Ghi chép, phản ánh và kiểm tra tình hình thanh toán với người mua, các khoản giảm trừ doanh thu, từ đó tính toán và phản ánh chính xác và phản ánh kịp thời doanh thu thuần bán hàng. - Kế toán quản lý chặt chẽ tình hình biến động và dự trữ kho hàng hóa phát hiện xử lý kịp thời hàng hóa ứ đọng. - Lựa chọn phương pháp và xác định đúng giá vốn hàng xuất bán để đảm bảo độ chính xác của chỉ tiêu lãi gộp hàng hóa. - Xác định kết quả tiêu thụ và thực hiện chế độ báo cáo hàng hóa và báo cáo tiêu thụ. Kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ thực hiện tốt nhiệm vụ của mình sẽ đem lại hiệu quả thiết thực cho công tác tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ nói riêng và cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung. 3.3.4. Phương pháp hạch toán trong kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ 3.3.4.1 Các tài khoản sử dụng Kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ tập chung nghiên cứu vào các tài khoản liên quan đến nghiệp vụ bán hàng và xác định kết quả tiêu thụ. Mỗi doanh nghiệp khác nhau sẽ áp dụng hệ thống tài khoản khác nhau song các tài khoản chủ yếu được sử dụng là: - Tài khoản 111: Tiền mặt - Tài khoản 112: Tiền gửi ngân hàng; - Tài khoản 131: Phải thu khách hàng; - Tài khoản 133: Thuế GTGT được khấu trừ; - Tài khoản 156: Hàng hóa; - Tài khoản 333: Thuế và các khoản phải nộp nhà nước; - Tài khoản 421: Lợi nhuận chưa phân phối; Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 14

Trang 14

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp - Tài khoản 511: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ; - Tài khoản 515: Doanh thu hoạt động tài chính; - Tài khoản 521: Các khoản giảm trừ doanh thu; - Tài khoản 632: Giá vốn hàng bán; - Tài khoản 635: Chi phí tài chính; - Tài khoản 642: Chi phí quản lý kinh doanh; - Tài khoản 711: Thu nhập khác; - Tài khoản 811: Chi phí khác; - Tài khoản 821: Chi phí thuế thu nhập hiện hành; - Tài khoản 911: Xác định kết quả kinh doanh; 3.3.4.2 Trình tự hạch toán. a. Kế toán giá vốn hàng bán ❖ Chứng từ sử dụng - Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho - Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ - Hóa đơn GTGT - Hóa đơn bán hàng thông thường ❖ Tài khoản sử dụng: Tài khoản 632 – Giá vốn hàng bán. ❖ Công dụng: Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ. ❖ Phương pháp hạch toán: (Hình 3-1) Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 15

Trang 15

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp TK 156, 157 TK 632 TK 911 TK 111,112 Kết chuyển GVHB và Nhập kho hàng hóa các chi phí XĐ kết quả Trị giá vốn của HH, Thành phẩm xuất bán TK 133 TK 156 Phần hao hụt, mất mát Hàng bán bị trả lại nhập kho HTK được tính vào GVHB Hình 3-1: Sơ đồ hạch toán giá vốn hàng bán theo phương pháp kê khai thường xuyên b. Kế toán doanh thu tiêu thụ và các khoản giảm trừ doanh thu 1, Kế toán doanh thu tiêu thụ - Chứng từ sử dụng: Hóa đơn bán hàng (doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, thuế TTĐB), bảng kê bán lẻ, hóa đơn GTGT, các chứng từ phiếu thu- chi khác. - Tài khoản sử dụng: TK 511- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, TK 338.7- Doanh thu chưa thực hiện. - Trình tự kế toán tiêu thụ theo các phương thức: Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 16

Trang 16

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp ❖ Phương thức bán hàng trực tiếp: (Hình 3-2) TK 911 TK 511 TK 111,112,131 Kết chuyển DT Giá bán chưa thuế TK 3331 Thuế GTGT đầu ra Hình 3-2: Sơ đồ hạch toán doanh thu bán hàng theo phương thức bán hàng trực tiếp tại doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ ❖ Theo phương thức bán hàng đại lý, bán đúng giá quy định hưởng hoa hồng: (Hình 3-3) TK 156 TK 157 TK 632 Xuất hàng giao đại lý Hàng gửi bán đã tiêu thụ Hàng không bán trả lại TK 511 TK 111,112,131 TK 642 Doanh thu bán hàng đại lý Hoa hồng phải trả TK 3331 VAT đầu ra Hình 3-3: Sơ đồ hạch toán doanh thu bán hàng theo phương thức bán hàng đại lý, bán đúng giá hưởng hoa hồng tại đơn vị giao đại lý Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 17

Trang 17

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp ❖ Tiêu thụ trả góp: (Hình 3-4) TK 511 TK 131 Doanh thu bán hàng Tổng số tiền còn (ghi theo giá bán trả tiền ngay) phải thu khách hàng TK 131 TK 111,112 VAT đầu ra Số tiền đã thu của TK 515 TK 338.7 khách hàng Định kỳ, k/c doanh Lãi trả góp thu là lãi tiền phải hoặc trả chậm phải thu thu từng kỳ của khách hang Hình 3-4: Sơ đồ hạch toán các nghiệp vụ theo phương thức trả góp ❖ Tiêu thụ theo phương thức hàng đổi hàng: (Hình 3-5) ❖ Theo phương thức gửi hàng. TK 1561 TK 632 Giá vốn của hàng đem đi trao đổi TK 5111 TK 131 TK 152, 156, 632 DT tiêu thụ của hàng đem Tổng giá thanh toán của đi trao đổi hàng nhận về TK 3331 TK 1331 VAT đầu vào TK 111,112 được khấu trừ Thiếu tiền hàng Thừa tiền hàng Hình 3-5: Sơ đồ hạch toán các nghiệp vụ tiêu thụ theo phương thức hàng đổi hàng Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 18

Trang 18

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp 2, Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu - Tài khoản sử dụng: TK 521- Các khoản giảm trừ doanh thu •TK 521.1: Chiết khấu thương mại •TK 521.2: Hàng bán bị trả lại •TK 521.3: Giảm giá hàng bán •Và các tài khoản liên quan khác - Phương pháp hạch toán: Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu được thực hiện theo hình 3-6: TK 111, 112, 131 TK 5212 TK 511 Doanh số hàng bán bị trả lại Kết chuyển hàng bán bị trả lại cuối kỳ TK 3331 Số thuế được giảm trừ TK 5213 Số giảm giá hàng bán K/c giảm giá hàng bán cuối kỳ TK 3332,3333 Thuế TTĐB và XNK phải nộp (nếu có) TK 632 TK 156 Nhận lại hàng và nhập kho Hình 3-6: Sơ đồ hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 19

Trang 19

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp c. Kế toán chi phí bán hàng: ❖ Khái niệm: Chi phí bán hàng là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ. ❖ Chứng từ kế toán sử dụng - Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội. - Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ - Bảng phân bổ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ. - Hóa đơn GTGT - Phiếu chi ❖ Sổ sách kế toán sử dụng - Sổ chi tiết tài khoản 641. - Sổ cái tài khoản 641 ❖ Tài khoản kế toán sử dụng Tài khoản 641- “Chi phí bán hàng” được mở chi tiết theo từng nội dung chi phí như: - TK 6411: Chi phí nhân viên - TK 6412: Chi phí vật liệu, bao bì - TK 6413: Chi phí dụng cụ, đồ dùng - TK 6414: Chi phí khấu hao TSCĐ - TK 6415: Chi phí bảo hành - TK 6417: Chi phí dịch vụ mua ngoài - TK 6418: Chi phí bằng tiền khác ❖ Công dụng: Tài khoản này được dùng để phản ánh các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 20

Trang 20

Trường Đại học Mỏ-Địa Chất Luận văn tốt nghiệp Phương pháp hạch toán: (Hình 3-7) TK 641 TK 334, 338 TK 111, 112, 152 Tiền lương và các khoản trích theo lươngthực tế phát sinh TK 152, 153 Chi phí NVL, CCDC TK 214 Chi phí khấu hao TSCĐ TK 911 TK 111, 112, 141 Chi phí dịch vụ mua K/c xác định kết quả ngoài khác Hình 3-7: Sơ đồ hạch toán các nghiệp vụ chi phí bán hàng d. Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp ❖ Khái niệm: Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là toàn bộ chi phí có liên quan đến hoạt động quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và quản lý điều hành chung toàn doanh nghiệp. ❖ Chứng từ kế toán sử dụng - Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội. - Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ - Bảng phân bổ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ. - Hóa đơn GTGT - Hóa đơn thông thường - Phiếu chi - Giấy báo nợ tiền gửi ngân hàng ❖ Sổ sách kế toán sử dụng - Sổ cái, sổ chi tiết tài khoản 642. - Sổ nhật ký chung Phạm Văn Mạnh – Kế toán C– K61 21

Showing the first 20 pages. Download the document to see it all.

Comments (0)

Sign in to join the discussion

No comments yet. Be the first!