Seite 1
LỜI NÓI ĐẦU Hệ sinh thái khởi nghiệp là một khuôn khổ khái niệm được thiết kế để thúc đẩy sự phát triển kinh tế thông qua tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp nhỏ. Các hệ sinh thái khởi nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, việc hình thành các hệ sinh thái khởi nghiệp bền vững đòi hỏi một loạt các yếu tố và chúng cần được hình thành một cách hữu cơ. Để phát triển các hệ thống khởi nghiệp thành công nên tránh việc “chọn người chiến thắng” hoặc sao chép mô hình Thung lũng Silicon. Tuy nhiên, có thể hỗ trợ bằng chính sách của chính phủ thông qua các khuôn khổ quy định luật pháp và hành chính. Liên quan mật thiết với các cụm công nghiệp, các hệ sinh thái khởi nghiệp nên được xây dựng từ các ngành công nghiệp hiện có thông qua một cách tiếp cận “từ trên xuống" và "từ dưới lên". Hệ sinh thái khởi nghiệp cần bao hàm tất cả các ngành công nghiệp chứ không chỉ có các ngành công nghệ cao, các doanh nghiệp tăng trưởng cao. Quá trình hoạch định chính sách cần chú ý rằng giải pháp với các doanh nghiệp nhỏ đòi hỏi một phản ứng chủ yếu mang tính “giao dịch”, trong khi giải pháp cho tinh thần khởi nghiệp lại mang đặc tính “quan hệ” nhiều hơn. Tổng hợp các tài liệu về tinh thần kinh doanh và hệ sinh thái khởi nghiệp của OECD và của một số nước có kinh nghiệm xây dựng thành công các hệ sinh thái khởi nghiệp, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia biên soạn Tổng quan: “XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP: VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH CHÍNH PHỦ” nhằm cung cấp cho các độc giả, đặc biệt là các nhà hoạch định chính sách những khái niệm toàn diện, các đặc điểm và các thành phần của hệ sinh thái khởi nghiệp và vai trò của chính sách chính phủ trong việc phát triển thành công các hệ sinh thái khởi nghiệp. Xin trân trọng giới thiệu. CỤC THÔNG TIN KH&CN QUỐC GIA 1
Seite 2
I. KHÁI NIỆM VỀ HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP 1. Định nghĩa hệ sinh thái khởi nghiệp và các khái niệm liên quan Những phát triển trong chính sách công nghiệp Hơn sáu mươi năm qua đã từng chứng kiến một sự tiến hóa trong cách thức chính phủ tại các nước tiên tiến đã tiến hành các chính sách công nghiệp và doanh nghiệp. Hai mươi năm gần đây đã có sự gia tăng về cả số lượng các sáng kiến chính sách và mức độ kinh phí tài trợ được cam kết cho các hoạt động trong một quá trình được gọi là nhà nước “phát triển”. Những thay đổi này có thể nói ngắn gọn như một sự chuyển dịch từ các chính sách doanh nghiệp truyền thống hướng tới các chính sách doanh nghiệp định hướng tăng trưởng và đã có những thay đổi quan trọng về mục tiêu chú trọng, về sự hoạt động và mối liên kết với các chính sách khác. Điều này đã dẫn đến những thay đổi dần dần, mặc dù khác nhau giữa các nước, hướng đến sự chú trọng lớn hơn vào hỗ trợ cho tinh thần khởi nghiệp định hướng tăng trưởng. Kết quả là các nhà hoạch định chính sách tại các nước thuộc khối OECD ngày càng chú trọng mạnh mẽ hơn vào việc khởi phát thành lập các công ty tăng trưởng cao (High Growth Firm - HGF) (OECD, 2010; 2013). Lý do của sự tập trung này là các HGF được cho là có thể thúc đẩy tăng trưởng năng suất, tạo việc làm mới, gia tăng đổi mới sáng tạo và thúc đẩy quốc tế hóa kinh doanh. Sự phân tích tổng hợp các công trình nghiên cứu thực nghiệm đã kết luận rằng “một vài công ty phát triển nhanh chóng đã tạo ra một tỷ trọng lớn (theo cách không cân xứng) các việc làm mới, nhiều hơn hẳn các doanh nghiệp tăng trưởng không cao. Điều này được cảm nhận đặc biệt rõ rệt trong các cuộc khủng hoảng, vì thế mối quan tâm chính sách hướng đến các HGF được giải thích chủ yếu bằng một từ duy nhất đó là “việc làm”. Đa số các HGF là những công ty nhỏ (không quá 50 nhân viên) nhưng vững vàng (đã thành lập quá 5 năm). Ngoài ra các công ty này phân bố trên khắp các ngành công nghiệp, không có xu hướng thiên về các doanh nghiệp dựa vào công nghệ. Các doanh nghiệp HGF không chỉ tạo việc làm trực tiếp, chúng còn tạo nên các hiệu ứng lan tỏa quan trọng có lợi cho sự tăng trưởng của các công ty khác trong cùng địa phương (Mason et al, 2009) và cụm công nghiệp. Có bằng chứng chỉ ra rằng HGF còn mang đến một sự kích thích mang tên Schumpeter, có nghĩa là sự kích thích kinh tế thông qua gia tăng cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và làm tăng sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế. Thực tế cho thấy các doanh nghiệp HGF có mức tăng năng suất cao hơn mức trung bình, trình độ đổi mới sáng tạo cao, mức độ định hướng xuất khẩu mạnh, và mức độ quốc tế hóa cao. Các nghiên cứu gần đây cho thấy các doanh nghiệp này đầu tư mạnh vào nguồn vốn con người và có khả năng hơn các doanh nghiệp không phải là HGF trong việc tuyển dụng những người bị thiệt thòi hơn trên thị trường lao động, như 2
Seite 3
người thất nghiệp dài hạn và công nhân lưu động. Storey và Greene (2010) đã kết luận rằng: “Những doanh nghiệp vốn là những công ty nhỏ nhưng đã phát triển nhanh và mạnh để trở thành các công ty bậc trung và sau đó thành các doanh nghiệp lớn chỉ trong một thời gian tương đối ngắn chính là trung tâm của sự thịnh vượng kinh tế. Khả năng của một quốc gia trong việc nuôi dưỡng sự phát triển các doanh nghiệp này là yếu tố quan trọng nhất trong sự phát triển doanh nghiệp”. Sự chú trọng chính sách mới nổi này đang phát triển theo một số khía cạnh, thứ nhất có nhiều chương trình khởi nghiệp (start-up) hiện đang tập trung vào các nỗ lực hỗ trợ cho các tổ chức khởi nghiệp tăng trưởng cao. Điều này phản ánh qua sự thừa nhận ngày càng cao rằng không phải tất cả các start-up đều có giá trị kinh tế ngang nhau và một số công ty mới có thể thế chỗ các công ty khác trong cùng lĩnh vực. Mặc dù có bằng chứng rằng các doanh nghiệp HGF không phải là những doanh nghiệp mới chuyên biệt, nhưng các chính sách tại nhiều nước OECD vẫn tiếp tục chú trọng vào các tổ chức khởi nghiệp. Các công cụ hỗ trợ chính sách cụ thể để nuôi dưỡng các doanh nghiệp start-up tăng trưởng cao chủ yếu mang tính giao dịch, đáng chú ý là các tài trợ NC-PT và các ưu đãi thuế, các tổ chức và vườn ươm thúc đẩy doanh nghiệp, các quỹ tài trợ cho giai đoạn chứng minh khái niệm và cơ hội tiếp cận đến nguồn kinh phí. Một đặc điểm mạnh mẽ của các công cụ hỗ trợ HGF đó là sự tập trung vào hỗ trợ đổi mới sáng tạo (Mason và Brown, 2013). Ngoài ra còn có sự ủng hộ quan trọng cho các công ty khởi nguồn từ trường đại học. Việc đảm bảo và gia tăng các hoạt động tài chính đầu tư mạo hiểm cũng là một đặc điểm then chốt của các khuôn khổ chính sách này. Hiệu quả của các hình thức hỗ trợ mang tính “giao dịch” cho các doanh nghiệp HGF hiện đang được tranh luận. Cụ thể là chúng được cho là mang lại tương đối ít lợi ích cho người nhận và vì thế tác động còn hạn chế. Ví dụ Isenberg (2010) đã chỉ trích các cơ chế cung cấp cho các doanh nghiệp sự hỗ trợ về tài chính, ông lập luận rằng sẽ là sai lầm khi cung cấp cho các doanh nghiệp có tiềm năng cao những đồng tiền “dễ dàng”, cho rằng các dự án mới cần phải tiếp xúc sớm với sự khắc nghiệt của thị trường để đảm bảo rằng các nhà kinh doanh phát triển được sự bền bỉ và tài xoay xở. Trên thực tế, sự khó khăn thiếu thốn nguồn lực, thậm chí các môi trường thù địch lại thường thúc đẩy tài tháo vát của nhà kinh doanh. Giờ đây nhiều lập luận cho rằng các doanh nghiệp cần sự hỗ trợ liên quan đến “thời gian nhạy cảm”, như sự chỉ đạo chiến lược, sự phát triển chủ đạo và tư vấn kinh doanh. Kiểu tương tác như vậy và sự học hỏi kinh nghiệm được cho là có giá trị hơn đối với các doanh nghiệp HGF, đặc biệt là khi họ đã vượt qua thành công giai đoạn khởi nghiệp. Như vậy, trong khi hình thức hỗ trợ “dựa vào tiền” theo truyền thống được tiến hành thông qua các hình thức trợ cấp và các khoản tài trợ có thể có giá trị ở giai đoạn khởi nghiệp, nhưng lại mất hiệu quả khi các 3
Die ersten 3 Seiten werden angezeigt. Laden Sie das Dokument herunter, um alles zu sehen.
Kommentare (0)
Noch keine Kommentare. Seien Sie der Erste!