Tóm tắt ktct (chương 1)

UN
Uni24h
0 Downloads
71
0

Inhalt des Dokuments

Trang 1

lOMoARcPSD|11461189 1 CHƯƠNG 1 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CHỨC NĂNG CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN I. KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN Khái niệm Kinh tế - chính trị được xuất hiện đầu tiên trong tác phẩm «chuyên luận về kinh tế chính trị» xuất bản 1615 của A.Montchretien nhà kinh tế học người Pháp (thuộc trường phái trọng thương Pháp). Tuy nhiên, chỉ đến thế kỷ XVIII tư tưởng kinh tế mới trở thành môn khoa học (học thuyết kinh tế) khi hình thành hệ thống khái niệm, phạm trù mang tính chuyên ngành với công lao đóng góp to lớn của A.Smith nhà kinh tế học người Anh. Trong thời kỳ cổ đại và trung đại, do trình độ phát triển của sản xuất còn lạc hậu nên chưa tạo được những tiền đề để hình thành các lý luận kinh tế, các tư tưởng kinh tế còn ít và rời rạc, được trình bày lồng gép trong các tác phẩm bàn về xã hội, đạo đức … Sự xuất hiện và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã trở thành tiền đề cho sự phát triển mang tính hệ thống của kinh tế chính trị. Các lý luận kinh tế thời kỳ này chủ yếu tập trung vào lý giải sự giầu có và cách thức làm giầu, làm tăng của cải vật chất của xã hội. Hệ thống lý luận đầu tiên là «Chủ nghĩa trọng thương» ra đời giữa thế kỷ XV tồn tại đến giữa thế kỷ XVII (nổi bật là trọng thương Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp, Anh …). Nội dung cơ bản là nhấn mạnh vai trò của thương mại, đặc biệt là ngoại thương trong việc tạo ra sự giầu có. Đến giữ thế kỷ XVII xuất hiện kinh tế chính trị tư sản cổ điển (Pháp và Anh). Ở Pháp với tên gọi là «Chủ nghĩa trọng nông» (đại biểu: Boisguillebert, F.Quesney, Turgot). Nội dung cơ bản là nhấn mạnh vai trò của sản xuất nông nghiệp, coi trọng sở hữu tư nhân và tự do kinh tế. Ở Anh với tên gọi «Kinh tế chính trị cổ điển Anh» (Đại biểu: W.Petty, A.Smith, D.Ricardo). Đã trình bày một cách có hệ thống các khái niệm, phạm trù kinh tế của nền kinh tế thị trường như hàng hóa, giá cả, giá trị, tiền tệ, tiền công…để rút ra các quy luật vận động của nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XIX, còn có các lý luận kinh tế của Chủ nghĩa xã hội không tưởng và kinh tế chính trị Tiểu tư sản. Các lý thuyết này hướng vào phê phán những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản, dựa trên cơ sở tình cảm cá nhân, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân đạo, chưa chỉ ra được các quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và vì thế chưa luận chứng được vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản.

Trang 2

lOMoARcPSD|11461189 2 Vậy, Kinh tế chính trị là một môn khoa học có mục đích nghiên cứu tìm ra các quy luật chi phối sự vận động của những hiện tượng và quá trình hoạt động kinh tế của cong người tương ứng với những trình độ phát triển nhất định của xã hội. Từ thế kỷ XIX đến nay, lý luận kinh tế chính trị phát triển theo các hướng khác nhau, với các dòng lý thuyết kinh tế cơ bản sau: - Dòng lý thuyết kế thừa những luận điểm mang tính khái quát tâm lý, hành vi của kinh tế chính cổ điển Anh (bắt đầu từ Hậu cổ điển) không đi sâu vào phân tích, luận giải các quan hệ xã hội trong quá trình sản xuất cũng như vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản. Sự kế thừa này tạo tiền đề cho sự hình thành các nhánh lý thuyết kinh tế đi sâu vào hành vi của người sản xuất, người tiêu dùng hoặc các mối quan hệ giữa các đại lượng lớn của nền kinh tế. Dòng lý thuyết này được xây dựng và phát triển bởi rất nhiều nhà kinh tế với nhiều trường phái lý thuyết kinh tế ở nhiều quốc gia khác nhau, phát triển từ thế kỷ XIX cho đến nay. - Dòng lý thuyết kinh tế chính trị của C.Mác- Ăngghen. C.Mác đã kế thừa trực tiếp những giá trị khoa học của kinh tế chính trị cổ điển Anh, để phát triển lý luận kinh tế chính trị về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. C.Mác xây dựng hệ thống lý luận kinh tế chính trị một cách khoa học, toàn diện về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa với hệ thống khái niệm, phạm trù (hàng hóa, giá trị, giá cả, tiền tệ, lợi nhuận …) mang tính khoa học và tính chỉnh thể, chỉ ra và làm sáng tỏ các quy luật kinh tế chi phối sự hình thành, phát triển và luận chứng vai trò lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sau khi C.Mác và Ph.Ănghen qua đời, V.I.Lênin tiếp tục kế thừa, bổ sung, phát triển lý luận kinh tế chính trị theo phương pháp luận của C.Mác và có nhiều đóng góp quan trọng. Nổi bật là chỉ ra đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, những vấn đề kinh tế chính trị cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội…. Với những đóng góp đó của Lênin, dòng lý luận kinh tế chính trị này được mang tên là kinh tế chính trị Mác - Lênin Sau Lênin các nhà nghiên cứu kinh tế của các Đảng cộng sản tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển kinh tế chính trị Mác – Lênin Như vậy, Kinh tế chính trị Mác – Lênin là một trong những dòng lý luận kinh tế chính trị nằm trong dòng chảy phát triển tư tưởng kinh tế của nhân loại. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN II.1. Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin Trong lịch sử phát triển của kinh tế chính trị, mỗi giai đoạn phát triển các lý thuyết kinh tế xác định đối tượng nghiên cứu khác nhau. Đối với chủ nghĩa trọng thương

Trang 3

lOMoARcPSD|11461189 3 xác định lưu thông (chủ yếu là ngoại thương) là đối tượng. Chủ nghĩa trọng nông coi nông nghiệp là đối tượng. Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh xác định nguồn gốc của cải và sự giầu có là đối tượng. Các dòng kinh tế chính trị tư sản từ hậu cổ điển đến nay xác định các giải pháp để ổn định và phát triển kinh tế vi mô hoặc vĩ mô là đối tượng. Kế thừa những thành tựu khoa học của kinh tế chính trị tư sản cổ điển, dựa trên quan điểm duy vật lịch sử C.Mác xác định: đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là các quan hệ của sản xuất và trao đổi trong các phương thức sản xuất mà quan hệ đó hình thành và phát triển. Kinh tế chính trị có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa hẹp, kinh tế chính trị nghiên cứu quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi trong một phương thức sản xuất nhất định. Theo nghĩa rộng, kinh tế chính trị là khoa học về những quy luật chi phối sự sản xuất vật chất và sự trao đổi những tư liệu sinh hoạt vật chất trong xã hội loài người. Vì thế, không có khoa học kinh tế chính trị cho tất cả mọi quốc gia và tất cả mọi thời đại, môn kinh tế chính trị là môn khoa học có tính lịch sử. Như vậy, đối tượng của kinh tế chính trị Mác – Lênin là hệ thống các quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi, các quan hệ trong mỗi khâu và giữa các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng). Kinh tế chính trị Mác – Lênin không nghiên cứu mặt kỹ thuật của sản xuất và trao đổi mà là hệ thống các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi. Các quan hệ này được đặt trong mối quan hệ biện chứng với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của phương thức sản xuất đang nghiên cứu. II.2. Mục đích nghiên cứu kinh tế chính trị Mác – Lênin Mục đích nghiên cứu kinh tế chính trị Mác – Lênin nhằm phát hiện ra các quy luật kinh tế chi phối các quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi. Từ đó, giúp cho các chủ thể trong xã hội vận dụng các quy luật ấy nhằm tạo động lực cho con người không ngừng sáng tạo, góp phần thúc đẩy văn minh và phát triển toàn diện xã hội. - Quy luật kinh tế là những mối liên hệ phản ánh bản chất, tất yếu, khách quan, lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế. Là quy luật xã hội, nên quy luật kinh tế tác động và phát huy vai trò phải thông qua hoạt động của con người trong xã hội với những lợi ích và quan hệ lợi ích khác nhau. Quy luật kinh tế tác động vào lợi ích và các quan hệ lợi ích của con người từ đó điều chỉnh hành vi kinh tế của họ. Vì vậy, nếu vận dụng đúng các quy luật kinh tế sẽ

Trang 4

lOMoARcPSD|11461189 4 tạo ra các quan hệ lợi ích kinh tế hài hòa, từ đó sẽ thúc đẩy sự sáng tạo của con người trong xã hội. Quy luật kinh tế và chính sách kinh tế đều tác động đến quan hệ lợi ích kinh tế. Nhưng quy luật kinh tế là khách quan, chính sách kinh tế là chủ quan. - Kinh tế chính trị Mác – Lênin trang bị cơ sở lý luận để nghiên cứu các khoa học kinh tế khác, ngược lại, những kết luận khoa học của các khoa học kinh tế khác bổ sung, làm phong phú thêm những kết luận của kinh tế chính trị đồng thời đặt ra yêu cầu cho sự phát triển của kinh tế chính trị. - Trong thực tiễn, cần nắm vững những nguyên lý cơ bản của kinh tế chính trị Mác - Lênin để có cơ sở khoa học, phương pháp luận cho các chính sách kinh tế ổn định, xuyên suốt, giải quyết những mối quan hệ lớn trong phát triển quốc gia. Đồng thời, tiếp thu có trọn lọc những thành tựu của các khoa học kinh tế khác để góp phần giải quyết những tình huống mang tính cụ thể. II.3. Phương pháp nghiên cứu kinh tế chính trị Mác – Lênin Kinh tế chính trị Mác – Lênin sử dụng phép biện chứng duy vật và nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội nói chung như: trừu tượng hóa khoa học, logic kết hợp với lịch sử, quan sát - thống kê, phân tích - tổng hợp …. Với đối tượng là những quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi, đây là những quan hệ trừu tượng, vì thế phương pháp quan trọng nhất của kinh tế chính trị Mác – Lênin là phương pháp trừu tượng hóa khoa học. Phương pháp trừu tượng hóa khoa học là cách thức nghiên cứu bằng cách tạm thời gạt bỏ khỏi đối tượng nghiên cứu những yếu tố ngẫu nhiên, tạm thời, không ổn định, tách ra và đi sâu vào phân tích những hiện tượng, yếu tố điển hình, bền vững, tất nhiên, ổn định. Qua đó, nắm được bản chất, xây dựng được các khái niệm, phạm trù và phát hiện tính quy luật và quy luật chi phối sự vận động của đối tượng nghiên cứu. Khi sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học cần phải xác định được giới hạn của sự trừu tượng hóa. Không tùy tiện, chủ quan loại bỏ những nội dung hiện thực của đối tượng, gây sai lệch bản chất của đối tượng nghiên cứu. III. CHỨC NĂNG CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN III.1. Chức năng nhận thức Kinh tế chính trị Mác – Lênin cung cấp hệ thống tri thức lý luận về sự vận động của các quan hệ xã hội trong sản xuất và trao đổi; về sự tác động biện chứng giữa các quan hệ xã hội đó với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng trong từng thời kỳ phát triển của nền sản xuất xã hội.

Trang 5

lOMoARcPSD|11461189 5 Cung cấp những phạm trù kinh tế cơ bản, bản chất, phát hiện và nhận diện các quy luật kinh tế của kinh tế thị trường làm cơ sở lý luận cho nhận thức các hiện tượng kinh tế trong xã hội, góp phần nâng cao nhận thức, tư duy kinh tế cho chủ thể nghiên cứu. III.2. Chức năng thực tiễn Kết quả nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin là phát hiện ra các quy luật, và tính quy luật chi phối sự vận động của các quan hệ xã hội trong sản xuất và trao đổi. Trong hoạt động thực tiễn nếu vận dụng đúng quy luật sẽ mang lại hiệu quả cao cho hoạt động, vì thế, kinh tế chính trị Mác – Lênin mang trong nó chức năng cải tạo thực tiễn, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. III.3. Chức năng tư tưởng Kinh tế chính trị Mác – Lênin góp phần xây dựng nền tảng tư tưởng cộng sản cho những người lao động tiến bộ và yêu chuộng tự do, củng cố niềm tin để xây dựng một xã hội tương lai tốt đẹp; góp phần xây dựng thế giới quan khoa học cho những chủ thể có mong muốn xây dựng một xã hội hướng tới giải phóng con người, xóa bỏ dần những áp bức bất công. III.4. Chức năng phương pháp luận Mỗi môn khoa học kinh tế đều có hệ thống khái niệm, phạm trù khoa học riêng, song để hiểu được một cách sâu sắc, bản chất, thấy được căn nguyên của sự phát triển xã hội thì phải dựa trên cơ sở am hiểu nền tảng lý luận từ kinh tế chính trị. Bởi vì, những kết luận của kinh tế chính trị (tính quy luật và quy luật kinh tế) luôn là điểm xuất phát và là tiền đề để các khoa học kinh tế khác tiếp cận và giải quyết các vấn đề trong phạm vi nghiên của của mình. Với ý nghĩa như vậy, kinh tế chính trị Mác – Lênin thực hiện chức năng phương pháp luận. CHƯƠNG 2 HÀNG HÓA, THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG I. LÝ LUẬN CỦA C,MÁC VỀ SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ HÀNG HÓA I.1. Sản xuất hàng hóa - Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế với mục đích sản xuất ra sản phẩmđể trao đổi, mua bán. - Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa: Thứ nhất, Phân công lao động xã hội (điều kiện cần)

Trang 6

lOMoARcPSD|11461189 6 Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa lao động, phân bổ lao động trong xã hội vào các ngành nghề sản xuất khác nhau. Khi có phân công lao động xã hội, mỗi người sản xuất chỉ sản xuất một hoặc một số loại sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của họ lại đòi hỏi nhiều loại sản phẩm để thỏa mãn, vì thế để thỏa mãn nhu cầu tất yếu những người sản xuất phải trao đổi sản phẩm với nhau. Họ phụ thuộc vào nhau, làm cho lao động của họ trở thành một bộ phận của lao động xã hội, sản xuất của họ mang tính xã hội Thứ hai, sự tách biệt tương đối về kinh tế của các chủ thể sản xuất (điều kiện đủ) Điều kiện này làm cho người sản xuất độc lập với nhau, có sự tách biệt về lợi ích và làm cho người sản xuất chi phối được sản phẩm của mình, trong điều kiện đó người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi mua bán, tức là làm cho việc trao đổi sản phẩm tồn tại dưới hình thức hàng hóa. Trong sự phát triển của sản xuất, điều kiện này xuất hiện và tồn tại trên cơ sở sự khác biệt về quyền sở hữu, xã hội càng phát triển, sự tách biệt về quyền sở hữu càng sâu sắc, hàng hóa được sản xuất càng phong phú và đa dạng. Như vậy, Điều kiện này đã làm cho lao động và sản xuất của người sản xuất mang tính tư nhân. Trong xã hội, khi còn tồn tại hai điều kiện trên, thì còn tồn tại sản xuất hàng hóa, con người không thể dùng ý chí chủ quan để xóa bỏ sản xuất hàng hóa. Hai điều kiện trên là cơ sở hình thành mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa là mâu thuẫn giữa tính tư nhân của sản xuất với tính xã hội của sản xuất. Việc giải quyết mâu thuẫn này được thực hiện thông qua trao đổi hàng hóa và là động lực để thúc đẩy phát triển sản xuất, làm cho sản xuất hàng hóa có nhiều ưu điểm vượt trội so với sản xuất tự nhiên, đồng thời cũng làm cho nó xuất hiện và tồn tại nhiều khuyết tật. I.2. Hàng hóa I.2.1. Hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa - Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán. Cần chú ý, khái niệm hàng hóa trên, nói đến hàng hóa dưới góc độ bản chất của hàng hóa. Hàng hóa trước hết phải là sản phẩm của lao động, nhưng trong thực tế sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa người ta có thể mua bán cả những vật không phải là sản phẩm của lao động, vật đó không mang bản chất hàng hóa nhưng được tồn tại dưới hình thái hàng hóa. Vì thế, nếu xét dưới góc độ hiện tượng thì hàng

Trang 7

lOMoARcPSD|11461189 7 hóa là những vật (hữu hình hay vô hình) đem ra trao đổi, mua bán hoặc có mục đích đem trao đổi, mua bán. Sản phẩm chỉ mang hình thái hàng hóa khi việc sản xuất ra nó có mục đích đưa ra thị trường để trao đổi, mua bán. Vì vậy, những sản phẩm không đưa ra thị trường, không được trao đổi, mua bán hoặc không nhằm mục đích trao đổi, không phải hàng hóa. Hàng hóa có thể sử dụng cho nhu cầu sản xuất hoặc nhu cầu cá nhân. Nó có thể tồn tại dưới hình thái vật chất cụ thể hoặc phi vật thể. - Hai thuộc tính của hàng hóa + Giá trị sử dụng: là công dụng của vật, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người; có thể là nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần, nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất hoặc nhu cầu tiêu dùng cho cá nhân Giá trị sử dụng của vật do thuộc tính tự nhiên của yếu tố tham gia cấu thành nên vật quy định, số lượng giá trị sử dụng của một vật phụ thuộc vào sự phát triển của nền sản xuất xã hội và sự phát triển của khoa học, công nghệ. Nền sản xuất càng phát triển, khoa học công nghệ càng tiên tiến, càng giúp cho con người phát hiện ra nhiều và phong phú các công dụng của vật. Đối với hàng hóa, giá trị sử dụng của hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu của người mua. Giá trị sử dụng chỉ là phương tiện của người sản xuất hàng hóa giúp họ có thể đạt được mục đích của mình . Vì thế, trong sản xuất hàng hóa, người sản xuất luôn phải quan tâm đến giá trị sử dụng của hàng hóa sao cho ngày càng đáp ứng được nhu cầu của người mua. + Giá trị hàng hóa: là lao động của người sản xuất ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Trong trao đổi, các hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi được với nhau là vì chúng có một điểm chung đều là kết quả của sự hao phí sức lao động. Hay nói cách khác chúng đều có giá trị. Khi sản phẩm là hàng hóa, sản phẩm được đặt trong quan hệ giữa người mua và người bán, trong quan hệ xã hội. Khi đó, lao động hao phí để sản xuất hàng hóa mang tính xã hội, thể hiện quan hệ xã hội của những người sản xuất. Do đó, giá trị của hàng hóa là hao phí lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Giá trị hàng hóa biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất, trao đổi hàng hóa và là một phạm trù lịch sử. Khi nào có sản xuất, trao đổi hàng hóa, khi đó có phạm trù giá trị hàng hóa. Giá trị hàng hóa là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi, giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị.

Trang 8

lOMoARcPSD|11461189 8 I.2.2. Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa + Đơn vị đo lường giá trị hàng hóa là thời gian lao động xã hội cân thiết Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, với một cường độ lao động trung bình, trình độ thành thạo trung bình và trình độ kỹ thuật trung bình. Vậy, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa là lượng thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra đơn vị hàng hóa đó. Trong trao đổi người ta trao đổi hàng hóa theo lượng gia trị xã hội. Vì thế, để có được lợi nhuận và giành được ưu thế trong cạnh tranh người sản xuất, trao đổi hàng hóa phải luôn đổi mới, sáng tạo nhằm hạ thấp hao phí lao động cá biệt của một đơn vị hàng hóa xuống thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết. Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa bao gồm: hao phí lao động quá khứ là giá trị của các yếu tố tư liệu sản xuất đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hóa đó và hao phí lao động sống của người lao động kết tinh vào hàng hóa. + Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa Một là, năng suất lao động Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, là hiệu quả của lao động, được tính bằng số sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số thời gian hao phí để tạo ra một đơn vị sản phẩm. Năng suất lao động có quan hệ tỷ lệ nghịch với giá trị một đơn vị hàng hóa. Khi năng suất lao động tăng, số sản phẩm tạo ra trong một đơn vị thời gian tăng, nhưng hao phí lao động trong đơn vị thời gian đó không đổi, vì thế hao phí lao động cho một đơn vị sản phẩm giảm. Các nhân tố tác động đến năng suất lao động gồm: trình độ của người lao động; trình độ tiên tiến và mức độ trang bị kỹ thuật, khoa học, công nghệ; trình độ quản lý; yếu tố tự nhiên. Như vậy, tăng năng suất lao động có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc tạo ra nhiều của cải, hạ thấp giá trị hàng hóa, tăng sức cạnh tranh cả về chất lượng và quy mô ... Hai là, cường độ lao động Cường độ lao động là mức độ khẩn trương của hoạt động lao động. Cường độ lao động tăng chỉ làm tăng tổng giá trị tạo ra trong một đơn vị thời gian, nhưng không làm thay đổi lượng giá trị một đơn vị hàng hóa. Vì, tăng cường độ lao động làm tăng tổng hao phí lao động, đồng thời tăng lượng sản phẩm tương ứng trong một đơn vị thời gian, nên hao phí lao động cho một đơn vị sản phẩm không đổi. Cường độ lao động chịu ảnh hưởng của các yếu tố: sức khỏe, thể chất, tâm lý, sự thành thạo của người lao động, công tác tổ chức, kỷ luật lao động …

Trang 9

lOMoARcPSD|11461189 9 Tăng cường độ lao động cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra nhiều sản phẩm, tăng quy mô của sản xuất, sử dụng có hiệu quả hơn đối với tư liệu lao động, tăng sức cạnh tranh về mặt quy mô ... Ba là, tính chất phức tạp của lao động Lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi phải đào tạo một cách có hệ thống, chuyên sâu về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng vẫn có thể làm được. Lao động phức tạp là lao động đòi hỏa phải qua đào tạo về kỹ năng, nghiệp vụ theo yêu cầu của những nghề nghiệp chuyên môn mới có thể làm được. Trong cùng một đơn vị thời gian lao động phức tạp tạo ra lượng giá trị lớn hơn lao động giản đơn. Đây là cơ sở lý luận để xác định mức thù lao cho các loại lao động khác nhau trong thực tế. I.2.3. Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính là do lao động của người sản xuất hàng hóa có tính chất hai mặt, đó là : + Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượng lao động riêng, công cụ lao động riêng, phương pháp lao động riêng và kết quả riêng với những công dụng nhất định, như vậy lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa. Số lượng lao động cụ thể trong xã hội phụ thuộc vào sự phát triển của phân công lao động xã hội và sự phát triển của tiến bộ khoa học, kỹ thuật. Khoa học kỹ thuật và phân công lao động xã hội càng phát triển thì các hình thức của lao động cụ thể càng phong phú và đa dạng. + Lao động trừu tượng là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa không tính đến hình thức cụ thể của nó; đó là sự hao phí sức lao động nói chung của người sản xuất hàng hóa về sức lực và trí tuệ. Lao động trừu tượng là cơ sở để so sánh, trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau. Vì vậy, lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa hay nói cách khác giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, được hình thành từ hai điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa. Trong đó, lao động cụ thể phản ánh tính tư nhân của sản xuất hàng hóa, thể hiện sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất. Việc sản xuất cái gì, ở đâu, như thế nào… là việc riêng của mỗi chủ thể sản xuất. Lao động trừu tượng phản ánh tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hóa, do phân công lao động xã hội quy định, lao động của mỗi người là một bộ phận của lao động xã hội, nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội.

Trang 10

lOMoARcPSD|11461189 10 Mâu thuẫn giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng xuất hiện khi sản phẩm do những người sản xuất hàng hóa riêng biệt không phù hợp với nhu cầu xã hội hoặc hao phí lao động cá biệt cao hơn hao phí lao động xã hội. Khi đó, sẽ có một số hàng hóa không bán được hoặc bán thấp hơn hao phí lao động bỏ ra, không đủ bù đắp chi phí sản xuất. Đây là mầm mống của khủng hoảng thừa. I.3. Tiền tệ I.3.1. Nguồn gốc và bản chất của tiền -Nguồn gốc của tiền Tiền là kết quả của quá trình phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa, là sản phẩm của sự phát triển của các hình thái giá trị từ thấp đến cao. Khi sản xuất chưa phát triển, việc trao đổi hàng hóa lúc đầu chỉ mang tính đơn lẻ, ngẫu nhiên, một hàng hóa này đổi lấy một hàng hóa khác. Đây là hình thái sơ khai và gọi là hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị. Sản xuất phát triển hơn, hàng hóa được sản xuất ra phong phú hơn, nhu cầu của con người cũng đa dạng hơn, trao đổi được mở rộng và trở nên thường xuyên hơn, một hàng hóa có thể đem trao đổi với nhiều hàng hóa khác, hình thái mở rộng của giá trị xuất hiện. Lúc này, trao đổi được mở rộng song không phải khi nào cũng dễ dàng thực hiện được vì vẫn trao đổi trực tiếp hàng lấy hàng. Khắc phục hạn chế này, trong trao đổi dần xuất hiện một hàng hóa được lấy làm vật ngang giá chung. Hình thái tiền của giá trị xuất hiện. Tuy nhiên, mỗi địa phương, vùng, quốc gia có vật ngang giá riêng, vì thế vẫn gặp khó khăn khi trao đổi hàng hóa vượt ra khỏi phạm vi của mình. Quá trình trao đổi vật ngang giá chung dần dần được cố định thống nhất ở vàng và bạc. Tiền vàng, tiền bạc xuất hiện làm vật ngang giá chung cho toàn bộ thế giới hàng hóa. Khi đó, người tiêu dùng muốn có một hàng hóa nào đó, họ có thể dùng tiền để mua nó. -Bản chất của tiền Tiền là một hàng hóa đặc biệt, đứng ra làm vật ngang giá chung dùng để biểu hiện giá trị của mọi hàng hóa, nó phản ánh hao phí lao động xã hội và quan hệ xã hội giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hóa. Khi giá trị của một hàng hóa được đo bằng một số tiền nhất định thì số tiền đó được gọi là giá cả của hàng hóa. Giá cả hàng hóa lên xuống xoay quanh giá trị của nó. Giá cả hàng hóa chịu ảnh hưởng của các nhân tố: giá trị hàng hóa, giá trị của đồng tiền, mức độ khan hiếm, quan hệ cung cầu … I.3.2. Chức năng của tiền.

Trang 11

lOMoARcPSD|11461189 11 -Thước đo giá trị: khi tiền dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hóa, nó làm chức năng thước đo giá trị, sở dĩ làm được chức năng này vì bản thân tiền là hàng hóa có giá trị. -Phương tiện lưu thông: khi tiền giữ vai trò làm trung gian trong trao đổi hàng hóa, tiền làm chức năng phương tiện lưu thông, lưu thông hàng hóa thực hiện theo công thức H – T – H. Lúc đầu để lưu thông hàng hóa thuận lợi nhà nước đúc vàng thành những đơn vị tiền tệ, sau đó đúc tiền bằng kim loại. Làm chức năng lưu thông không nhất thiết phải là tiền đúc, mà chỉ cần tiền ký hiệu giá trị, từ đó tiền giấy ra đời, sau này nhiều loại tiền ký hiệu giá trị khác xuất hiện như tiền kế toán, tiền séc, tiền điện tử …. Tuy nhiên, các loại tiền ký hiệu giá trị, bản thân chúng không có giá trị nên nhà nước in và phát hành phải theo quy luật lưu thông tiền tệ. Nếu in và phát hành vượt quá số cần thiết sẽ dẫn đến giá trị của đồng tiền giảm xuống, kéo theo lạm phát xuất hiện. -phương tiện cất trữ: khi tiền được rút ra khỏi lưu thông, tiền thực hiện chức năng cất trữ. Thực hiện chức năng này phải là tiền vàng, bạc và sẵn sàng tham gia lưu thông khi cần thiết. Cất trữ tiền là cất trữ của cải dưới hình thái giá trị. -phương tiện thanh toán: khi tiền được dùng để trả nợ, trả tiền mua chịu hàng hóa … tiền thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, chức năng này gắn liền với chế độ tín dụng thương mại (thanh toán không dùng tiền mặt) -tiền tệ thế giới: khi trao đổi hàng hóa vượt ra khỏi biên giới quốc gia, tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Thực hiện chức năng này, tiền thực hiện đồng thời bốn chức năng trên. Để thực hiện chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải là tiền vàng hoặc những đồng tiền được công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế. I.4. Dịch vụ và một số hình thái hàng hóa đặc biệt -Dich vụ Hàng hóa dịch vụ cũng mang đầy đủ các đặc điểm của hàng hóa thông thường đó là: là sản phẩm của lao động; có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của người mua; được sản xuất ra để trao đổi, mua bán. Tuy nhiên hàng hóa dịch vụ có điểm khác hàng hóa thông thường. Hàng hóa dịch vụ là hàng hóa vô hình, không thể cất trữ vì quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời. Ngày nay, sự phát triển của khoa học công nghệ và sự phát triển của sản xuất, nhu cầu của con người ngày càng đa dạng và phong phú, hàng hóa dịch vụ ngày càng

Trang 12

lOMoARcPSD|11461189 12 có vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng sản phẩm của xã hôi. -Quyền sử dụng đất, khoảng không, mặt nước … Mua bán đất là mua bán quyền sử dụng đất, giá cả của đất phụ thuộc vào mức sinh lời hay ích lợi thu được trên mảnh đất. Mức sinh lời và lợi ích của việc sử dụng đất phụ thuộc vào tính chất khan hiếm của diện tích đất (mục đích sử dụng, vị trí địa lý …), trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học kỹ thuật. Các hàng hóa như mặt nước sông, hồ hay khoảng không …. có tính chất tương tự như hàng hóa đất. -Thương hiệu (danh tiếng) Ngày nay thương hiệu cũng có thể mua bán được, thương hiệu không tự nhiên mà có, nó là kết quả của sự nỗ lực của sự hao phí sức lao động của người nắm giữ thương hiệu. Giá cả của thương hiệu phụ thuộc vào uy tín, ích lợi mang lại của việc sử dụng thương hiệu … -Chứng khoán, chứng quyền và một số giấy tờ có giá Chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) do các công ty, doanh nghiệp cổ phần phát hành; chứng quyền do các công ty kinh doanh chứng khoán chứng nhận; một số giấy tờ có giá như ngân phiếu, thương phiếu, giấy chứng nhận quyền sở hữu các tài sản có giá trị… Các loại giấy tờ trên cũng có một số đặc trưng của hàng hóa đó là: mua bán được và đem lại lợi ích (thu nhập) cho người mua, bán. Sự phát triển của các hàng hóa này hình thành nên thị trường chứng khoán (thị trường phái sinh của thị trường hàng hóa thực). Giá cả của chứng khoán phản ánh lợi ích kỳ vọng của người mua. Các hàng hóa trên có thể mua bán được vì nó dựa trên cơ sở sự tồn tại thực của một tổ chức kinh doanh hay tài sản thực đang tồn tại. II. THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG II.1. Thị trường II.1.1. Khái niệm và vai trò của thị trường - Khái niệm thị trường + Theo nghĩa hẹp, thị trường là nơi diễn ra hành vi trao đổi, mua bán hàng hóa giữa các chủ thể kinh tế với nhau. Ở đó, người mua sẽ tìm được những hàng hóa và dịch vụ mà mình cần, người bán sẽ thu được một số tiền tương ứng. Thị trường thể hiện dưới các hình thái: chợ, cửa hàng, quầy hàng lưu động …. + Theo nghĩa rộng, thị trường là tổng hòa các mối quan hệ liên quan đến trao đổi, mua bán hàng hóa trong xã hội, được hình thành trong những điều kiện lịch sử,

Trang 13

lOMoARcPSD|11461189 13 kinh tế, xã hội nhất định. Theo nghĩa này, thị trường là tổng thể các mối quan hệ kinh tế gồm cung - cầu - giá cả; quan hệ hàng – tiền; quan hệ hợp tác – cạnh tranh … và các yếu tố tương ứng với các quan hệ trên. Tất cả các quan hệ và yếu tố kinh tế trong thị trường đều vận động theo quy luật của thị trường. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về thị trường tùy theo tiêu thức hoặc mục đích nghiên cứu : Căn cứ vào mục đích sử dụng hàng hóa, có thị trường tư liệu sản xuất và thị trường tư liệu tiêu dùng. Căn cứ vào đầu vào và đầu ra của sản xuất, có thị trường các yếu tố đầu vào và thị trường hàng hóa đầu ra. Căn cứ vào phạm vi hoạt động, có thị trường trong nước và thị trường thế giới. Căn cứ vào tính chuyên biệt của thị trường có thể chia thị trường gắn với các lĩnh vực khác nhau Căn cứ vào tính chất và cơ chế vận hành của thị trường, có thị trường tự do, thị trường có điều tiết, thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, thị trường độc quyền. - Vai trò của thị trường Một là, thị trường là điều kiện, môi trường cho sản xuất phát triển Hàng hóa được sản xuất ra phải đưa ra thị trường, sản xuất càng phát triển, càng có nhiều loại và số lượng lớn hàng hóa và dịch vụ càng đòi hỏi thị trường tiêu thụ rộng lớn. Ngược lại, khi thị trường càng mở rộng, phạm vi và dung lượng thị trường càng lớn là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển để đáp ứng nhu cầu thị trường đòi hỏi. Thị trường là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, nó đặt ra các nhu cầu cho sản xuất, nhu cầu cho tiêu dùng và thỏa mãn các nhu cầu đó. Do đó thị trường có vai trò thông tin, định hướng cho sản xuất kinh doanh. Hai là, thị trường kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, tạo ra cách thức phân bổ nguồn lực hiệu quả trong nền kinh tế. Thị trường thúc đẩy các quan hệ kinh tế không ngừng phát triển. Do đó, đòi hỏi các thành viên trong xã hội phải luôn nỗ lực, sáng tạo để thích ứng. Khi sự sáng tạo được thị trường chấp nhận, chủ thể sáng tạo sẽ được thụ hưởng lợi ích tương xứng, lợi ích được đáp ứng lại trở thành động lực cho sự sáng tạo…. Dưới sự tác động khắc nghiệt của các quy luật thị trường buộc các chủ thể tham gia thị trường phải tích cực, năng động, sáng tạo và nhạy bén để tồn tại và phát triển. Đồng thời, với công cụ là giá cả, các nguồn lực cho sản xuất được điều tiết, phân bổ

Trang 14

lOMoARcPSD|11461189 14 tới các chủ thể sử dụng hiệu quả nhất, thị trường đã thực hiện sự lựa chọn tự nhiên đối với các chủ thể sản xuất. Ba là, thị trường gắn kết nền kinh tế thành một chỉnh thể, gắn kết nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới. Trong phạm vi quốc gia, thị trường gắn kết sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng thành một thể thổng nhất. Nó gắn kết chặt chẽ, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau, quy định lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, giữa các địa phương, các ngành nghề, các lĩnh vực tạo thành một thị trường chung, không phụ thuộc vào địa giới hành chính, phá vỡ kinh tế tự nhiên hình thành nền kinh tế quốc dân thống nhất. Trong quan hệ với nền kinh tế thế giới, thị trường làm cho nền kinh tế trong nước gắn với nền kinh tế thế giới, kinh tế trong nước từng bước tham gia vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế. Các quan hệ sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng không còn bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà được mở rộng, kết nối, liên thông với các quan hệ trên phạm vi thế giới. II.1.2. Cơ chế thị trường và nền kinh tế thị trường II.1.2.1.Cơ chế thị trường Cơ chế thị trường là tổng thể những tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành nền kinh tế thị trường hình thành những quy luật kinh tế điều tiết sự vận động, phát triển nền kinh tế một cách khách quan. Các yếu tố cơ bản của thị trường là giá cả, tiền tệ, cung cầu, cạnh tranh và lợi nhuận. Trong đó giá cả là yếu tố quan trọng nhất. Trong cơ chế thị trường, giá cả được hình thành một cách tự phát, giá cả có chức năng phân bổ các nguồn lực của sản xuất, phản ánh và điều tiết quan hệ cung cầu, cung cấp thông tin, phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, thực hiện việc lưu thông hàng hóa. Lợi nhuận là động lực trong cơ chế thị trường, nó chi phối hoạt động của người kinh doanh, là mục tiêu kinh tế cao nhất, là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh toàn bộ kết quả và hiệu quả cả về mặt lượng và mặt chất của quá trình kinh doanh. II.1.2.2. nền kinh tế thị trường - Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở giai đoạn cao, vận hành theo cơ chế thị trường. Trong đó, mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được thực hiện trên thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường. Kinh tế thị trường là sản phẩm văn minh của nhân loại, nó có quá trình phát triển với các trình độ từ thấp đến cao, từ kinh tế thị trường sơ khai, đến kinh tế thị trường tự do và ngày nay là kinh tế thị trường hiện đại.

Trang 15

lOMoARcPSD|11461189 15 - Những đặc trưng cơ bản phổ biến của nền kinh tế thị trường Thứ nhất, kinh tế thị trường đòi hỏi sự đa dạng của các chủ thể kinh tế, nhiều hình thức sở hữu. Các chủ thể kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật. Thứ hai, thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực xã hội thông qua hoạt động của các thị trường bộ phận, công cụ cơ bản là giá cả. Thứ ba, giá cả được hình thành theo nguyên tắc thị trường; cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển. Thứ tư, động lực trực tiếp của các chủ thể sản xuất kinh doanh là lợi nhuận Thứ năm, nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các chủ thể kinh tế, vừa khắc phục những khuyết tật của thị trường. Thứ sáu, kinh tế thị trường là nền kinh tế mở, thị trường trong nước gắn liền với thị trường quốc tế - Ưu thế của nền kinh tế thị trường Một là, kinh tế thị trường luôn tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự sáng tạo của các chủ thể kinh tế. Trong kinh tế thị trường dưới tác động của các quy luật thị trường và mục đích là lợi nhuận buộc các chủ thể kinh tế phải không ngừng đổi mới, sáng tạo, ứng dụng những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật … Đồng thời, thị trường cũng tạo ra những điều kiện cần thiết để thúc đẩy hoạt động sáng tạo của các chủ thể kinh tế. Trong kinh tế thị trường các chủ thể kinh tế muốn tồn tại và phát triển phải luôn luôn đổi mới và sáng tạo, đổi mới sáng tạo trở thành phương châm của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Hai là, nền kinh tế thị trường luôn phát huy tốt nhất tiềm năng của mọi chủ thể, các vùng miền cũng như lợi thế quốc gia trong quan hệ với thế giới Trong kinh tế thị trường với mục đích là lợi nhuận và sự gắn kết của thị trường nên mọi tiềm năng, lợi thế đều có thể được khai thác và trở thành lợi ích đóng góp cho sự phát triển xã hội. Ba là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra các phương thức để thỏa mãn tối đa nhu cầu của con người, từ đó thúc đẩy tiến bộ, văn minh xã hội. Dưới sự tác động của các quy luật thị trường luôn tạo ra sự phù hợp giữa khối lượng, cơ cấu sản xuất với khối lượng, cơ cấu nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Nhờ đó, nhu cầu tiêu dùng về các loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau được đáp ứng kịp thời. Thứ tư, nền kinh tế thị trường tạo ra môi trường kinh doanh dân chủ, tự do và công bằng; lựa chọn cái tiến bộ, đào thải cái lạc hậu. Trong kinh tế thị trường, mọi chủ thể đều có quyền tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh để thỏa mãn lợi ích của mình. Trên thị trường rất công bằng, thể hiện lợi

Trang 16

lOMoARcPSD|11461189 16 ích của các chủ thể được thực hiện phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của họ đối với xã hội. Thị trường là nơi để phát hiện, đào tạo, tuyển chọn, sử dụng con người, nâng cao quy trình quản lý kinh doanh, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới, đồng thời cũng là nơi để đào thải những quản lý, kỹ thuật lạc hậu kém hiệu quả. - Những khuyết tật của nền kinh tế thị trường Một là, xét trên phạm vi toàn bộ nền sản xuất xã hội, nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn những rủi ro khủng hoảng Khủng hoảng kinh tế trong nền kinh tế thị trường là khủng hoảng sản xuất «thừa hàng hóa». Nguyên nhân của khủng hoảng đã tiềm ẩn ngay từ khi xuất hiện sản xuất và trao đổi hàng hóa, đó là mâu thuẫn giữa tính tư nhân với tính xã hội của sản xuất hàng hóa, nhưng khủng hoảng chỉ trở thành hiện thực khi sản xuất hàng hóa phát triển đến giai đoạn kinh tế thị trường tự do. Khủng hoảng có thể diễn ra cục bộ đối với một hoặc số loại hàng hóa, cũng có thể diễn ra trên phạm vi tổng thể nền kinh tế. Nền kinh tế thị trường không thể tự khắc phục được những rủi ro tiềm ẩn này, đặc biệt sự dự báo chính xác thời điểm xẩy ra khủng hoảng là rất khó khăn. Hai là, nền kinh tế thị trường không thể khắc phục được xu hướng cạn kệt tài nguyên không thể tái tạo, suy thoái môi trường tự nhiên, môi trường xã hội Các chủ thể trong nền kinh tế với mục đích là tối đa hóa lợi nhuận, vì lợi ích trước mắt mang tính cá nhân của mình nên luôn tạo ra nguy cơ tiềm ẩn cạn kiệt nguồn tài nguyên, suy thoái môi trường. Cũng do chạy theo lợi nhuận, các chủ thể sản xuất kinh doanh sẵn sàng vi phạm luật pháp, vi phạm đạo đức để chạy theo mục tiêu làm giầu, gây xói mòn đạo đức kinh doanh, đạo đức xã hội. Vì mong muốn có được lợi nhuận cao nên các chủ thể sản xuất kinh doanh thường tìm tới những hoạt động giao dịch có lãi cao, những sản phẩm, dịch vụ không có nhiều lãi thì không làm nên vấn đề “hàng hóa công cộng” đã bị hạn chế. Ba là, nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được hiện tượng phân hóa sâu sắc trong xã hội. Các quy luật của thị trường luôn phân bổ lợi ích theo hiệu quả, mức độ và loại hình hoạt động tham gia thị trường, cùng với sự cạnh tranh gay gắt đã dẫn đến sự phân hóa là một tất yếu. Như vậy, kinh tế thị trường bên cạnh những ưu điểm còn có những khuyết tật. Vì thế, để khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường cần có sự can thiệp của nhà nước. Khi đó, nền kinh tế được gọi là kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước hay nền kinh tế hỗn hợp. II.1.3. Một số quy luật kinh tế chủ yếu của thị trường II.1.3.1. Quy luật giá trị

Trang 17

lOMoARcPSD|11461189 17 Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa. Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa ở đó có quy luật giá trị hoạt động. Nội dung của quy luật, quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết. Tức là, người sản xuất muốn bán được hàng hóa (muốn xã hội thừa nhận hàng hóa của mình) thì lượng giá trị cá biệt của một hàng hóa phải phù hợp với lượng giá trị xã hội của nó, muốn vậy, họ phải luôn tìm cách hạ thấp giá trị cá biệt ngang bằng hoặc nhỏ hơn lượng giá trị xã hội. Trong trao đổi, phải tiến hành theo nguyên tắc ngang giá, lấy giá trị xã hội làm cơ sở, không trao đổi theo giá trị cá biệt. Cơ chế hoạt động và phát huy tác dụng của quy luật giá trị là thông qua sự vận động của giá cả thị trường xoay quanh giá trị dưới tác động của quan hệ cung cầu. Trong thực tế người sản xuất và trao đổi hàng hóa không hề biết tác động quy luật giá trị, họ chỉ biết giá cả thị trường và hoạt động tuân theo mệnh lệnh của giá cả thị trường. Vai trò của quy luật giá trị : Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa Điều tiết sản xuất, với mục đích là lợi nhuận, người sản xuất thông qua sự biến động của giá cả thị trường, họ biết được tình hình cung - cầu của từng loại hàng hóa, biết được hàng hóa nào đang có lợi nhuận cao, hàng hóa nào đang thua lỗ. Nếu hàng hóa có giá cả bằng với giá trị thì sản xuất của họ được tiếp tục vì phù hợp với yêu cầu của xã hội. Nếu hàng hóa có giá cả cao hơn giá trị (cầu > cung) người sản xuất có nhiều lợi nhuận nên mở rộng sản xuất, cung ứng thêm hàng hóa ra thị trường, thu hút thêm tư liệu sản xuất và sức lao động làm cho quy mô sản xuất mở rộng. Nếu hàng hóa có giá cả thấp hơn giá trị (cầu < cung) người sản xuất sẽ ít lợi nhuận hoặc không có lợi nhuận vì vậy họ phải thu hẹp sản xuất, giảm bớt tư liệu sản xuất và sức lao động, quy mô sản xuất thu hẹp. Như vậy, quy luật giá trị thông qua giá cả thị trường đã tự phát phân bổ các yếu tố của sản xuất vào các ngành sản xuất khác nhau, điều chỉnh quy mô sản xuất của các ngành cho phù hợp với nhu cầu của xã hội. Điều tiết lưu thông, với mục đích là lợi nhuận, người tham gia lưu thông hàng hóa luôn vận chuyển hàng hóa từ nơi có giá cả thấp (cung > cầu) đến nơi có giá cả cao (cung < cầu). Như vậy quy luật giá trị góp phần làm cho cung, cầu hàng hóa giữa các vùng cân bằng, phân phối lại hàng hóa và thu nhập giữa các vùng miền, điều chỉnh sức mua của thị trường … Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao năng suất lao động.

Trang 18

lOMoARcPSD|11461189 18 Trên thị trường hàng hóa được trao đổi theo giá trị xã hội. Người sản xuất có giá trị cá biệt lớn hơn giá trị xã hội sẽ gặp bất lợi hoặc thua lỗ, người sản xuất có giá trị cá biệt nhỏ hơn giá trị xã hội sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn. Vì thế, với mục đích là lợi nhuận và để đứng vững trong cạnh tranh người sản xuất, kinh doanh phải tìm cách hạ thấp giá trị cá biệt của mình thấp hơn giá trị xã hội, thông qua các biện pháp làm tăng năng suất lao động như cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, đổi mới phương thức quản lý, nâng cao tay nghề, thực hành tiết kiệm … Trong kinh tế thị trường ai cũng làm như vậy, kết quả là lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, năng suất lao động xã hội tăng lên, chi phí sản xuất giảm xuống … Trong lưu thông, để có nhiều lợi nhuận, bán được nhiều hàng, giảm chi phí lưu thông, người kinh doanh phải tăng chất lượng phục vụ, tích cực quảng cáo, tổ chức tốt khâu bán hàng và hậu bán hàng, giảm các cấp thương mại trung gian …Làm cho quá trình lưu thông hiệu quả hơn, nhanh chóng, thuận tiện với chi phí thấp. Thứ ba, phân hóa những người sản xuất thành người giầu và người nghèo. Trong quá trình cạnh tranh, những người sản xuất có điều kiện sản xuất thuận lợi hoặc may mắn sẽ thu được nhiều lợi nhuận, dần trở thành giầu có, ngược lại người sản xuất có điều kiện ở thế bất lợi hoặc gặp rủi ro sẽ thua lỗ dẫn đến phá sản trở thành nghèo khổ, phải đi làm thuê. Trong kinh tế thị trường thuần túy, do chạy theo lợi ích cá nhân, đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, khủng hoảng kinh tế … là những nhân tố tác động làm tăng sự phân hóa và những tiêu cực về kinh tế xã hội khác. II.1.3.2. Quy luật lưu thông tiền tệ Quy luật lưu thông tiền tệ xác định số lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa ở mỗi thời kỳ nhất định. Số lượng tiền cần thiết cho lưu thông tỷ lệ thuận với tổng số giá cả của hàng hóa lưu thông trên thị trường và tỷ lệ nghịch với tốc độ lưu thông của tiền tệ Nếu gọi T là số lượng tiền cần thiết cho lưu thông trong một thời kỳ nhất định; P là mức giá cả; Q là khối lượng hàng hóa, dịch vụ đưa vào lưu thông; V là tốc độ lưu thông của đồng tiền, ta có công thức : Khi lưu thông hàng hóa phát triển, việc thanh toán không dùng tiền mặt trở nên phổ biến thì số lượng tiền cần thiết trong lưu thông dược xác định bằng công thức:

Trang 19

lOMoARcPSD|11461189 19 Trong đó G là tổng giá cả lưu thông; G1 là tổng giá cả hàng hóa bán chịu; G2 là tổng giá cả hàng hóa khấu trừ cho nhau; G3 là tổng giá cả hàng hóa đến kỳ thanh toán. Lưu thông tiền tệ và cơ chế lưu thông tiền tệ do cơ chế lưu thông hàng hóa quyết định. Số lượng tiền được phát hành và đưa vào lưu thông phụ thuộc vào khối lượng giá trị hàng hóa được đưa ra thị trường. Khi tiền giấy ra đời thay thế tiền vàng trong thực hiện chức năng lưu thông đã làm tăng khả năng tách rời lưu thông hàng hóa với lưu thông tiền tệ. Tiền giấy do chỉ là ký hiệu giá trị, nên khi phát hành vượt quá lượng tiền cần thiết cho lưu thông, sẽ làm tiền giấy bị mất giá, khi đó giá cả hàng hóa tăng dẫn đến lạm phát. II.1.3.3. Quy luật cung cầu Quy luật cung cầu là quy luật kinh tế điều tiết quan hệ giữa cung (bên bán) và cầu (bên mua) hàng hóa trên thị trường. Quy luật này đòi hỏi cung - cầu phải có sự thống nhất, nếu không có sự thống nhất sẽ xuất hiện các nhân tố điều chỉnh. Trên thị trường cung và cầu có mối quan hệ hữu cơ với nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả. Nếu cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị, nếu cung lớn hơn cầu giá cả thấp hơn giá trị, nếu cung nhỏ hơn cầu giá cả cao hơn giá trị. Đây là sự tác động phức tạp theo nhiều chiều hướng và nhiều mức độ khác nhau. Quy luật cung cầu có tác dụng điều tiết quan hệ giữa sản xuất và lưu thông hàng hóa; làm biến đổi cơ cấu và dung lượng thị trường; quyết định giá cả thị trường. Ở đâu có thị trường thì ở đó có quy luật cung – cầu tồn tại và hoạt động một cách khách quan. Nếu nhận thức được quy luật cung – cầu thì có thể vận dụng để tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng có lợi cho quá trình sản xuất. II.1.3.4. Quy luật cạnh tranh - Quy luật cạnh tranh là quy luật kinh tế điều tiết một cách khách quan mối quan hệ ganh đua kinh tế giữa các chủ thể trong sản xuất và trao đổi hàng hóa. Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế nhằm có được những ưu thế về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi ích tối đa Trong kinh tế thị trường cạnh tranh là tất yếu khách quan, nó xuất phát từ mục đích của các chủ thể tham gia thị trường là lợi nhuận tối đa. Kinh tế thị trường càng phát triển cạnh tranh trên thị trường càng trở lên thường xuyên và quyết liệt. - Cạnh tranh trong nội bộ ngành

Trang 20

lOMoARcPSD|11461189 20 Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hóa, nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch. Để có được lợi nhuận cao nhất, các chủ thể kinh doanh luôn cố gắng hạ thấp giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội của hàng hóa, bằng các biện pháp cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, hợp lý hóa quá trình sản xuất … để tăng năng suất lao động cá biệt. Kết quả là, năng suất lao động của ngành tăng hình thành giá trị xã hội mới cho hàng hóa (giá trị thị trường). Giá trị thị trường là cơ sở để xác định giá cả thị trường của hàng hóa, còn giá cả thị trường là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường. Cùng một loại hàng hóa được sản xuất ra trong các doanh nghiệp khác nhau, do điều kiện sản xuất khác nhau sẽ có giá trị cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường chúng được bán theo một giá thống nhất, đó là giá cả thị trường. - Cạnh tranh giữa các ngành Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh ở các ngành khác nhau nhằm tìm nơi đầu tư có lợi nhất. Biện pháp cạnh tranh là các doanh nghiệp tự do dịch chuyển nguồn lực của mình từ ngành này sang ngành khác. Kết quả của cạnh tranh, phân bổ lại nguồn lực và thu nhập của các chủ thể ở các ngành khác nhau, hình thành những tỷ lệ cân đối nhất định giữa các ngành trong từng thời kỳ phù hợp với nhu cầu của xã hội. - Tác động của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường + Những tác động tích cựccủa cạnh tranh Thứ nhất, cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. Trong kinh tế thị trường, cạnh tranh là một tất yếu, để nâng cao năng lực cạnh tranh, các chủ thể sản xuất kinh doanh không ngừng tìm kiếm và ứng dụng tiến bộ công nghệ vào sản xuất, nâng cao trình độ, tay nghề người lao động, hợp lý hóa quá trình sản xuất … kết quả là cạnh tranh thúc đẩy lực lượng sản xuất của xã hội phát triển nhanh hơn. Thứ hai, cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường. Trong kinh tế thị trường, với mục đích lợi nhuận tối đa, các chủ thể kinh tế bên cạnh sự hợp tác, họ luôn cạnh tranh với nhau để giành giật những điều kiện sản xuất kinh doanh thuận lợi, họ luôn đổi mới, sáng tạo. Thông qua đó, nền kinh tế thị trường không ngừng được hoàn thiện. Thứ ba, cạnh tranh là cơ chế điều chỉnh linh hoạt việc phân bổ các nguồn lực.

Die ersten 20 Seiten werden angezeigt. Laden Sie das Dokument herunter, um alles zu sehen.

Kommentare (0)

Anmelden um an der Diskussion teilzunehmen

Noch keine Kommentare. Seien Sie der Erste!