Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG DẠI HỌC KHOA HỌC XÀ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA NHÂN HỌC (TÁI BẢN LÀN THỨ II CÓ CHỈNH LÝ, BỔ SUNG)
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG DẠI HỌC KHOA HỌC XÀ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA NHÂN HỌC (TÁI BẢN LÀN THỨ II CÓ CHỈNH LÝ, BỔ SUNG)
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA NHÂN HỌC NHÂN HỌC ĐẠI CƯƠNG (Tái bản lần 2) NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016
LỜI NÓI ĐẦU Khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) được thành lập đến nay đã tròn 15 năm, đảm nhận đào tạo chương trình đại học và sau đại học. Cùng với hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học, các cán bộ giảng dạy đã tiến hành biên soạn các tập bài giảng, giáo trình, dịch thuật nhiều tài liệu tham khảo từ tiếng nước ngoài để phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Một trong những công việc cấp bách của khoa là biên soạn giáo trình Nhân học đại cương để giảng dạy cho sinh viên ngành nhân học cùng các ngành khoa học xã hội - nhân văn khác trong và ngoài trường. Việc biên soạn giáo trình Nhãn học đại cương là một công việc khó khăn, vì đây là ngành học mới được đào tạo ở Việt Nam và nguồn tài liệu tham khảo cho việc biên soạn chủ yếu phải dựa vào các giáo trình và tài liệu bằng tiếng nước ngoài, nhất là tiếng Anh mà những người tham gia biên soạn mới được tiếp cận trong thời gian chưa lâu. Mặc dù vậy, quyển giáo trình Nhân học đại cương cũng được hoàn thành và xuất bản vào năm 2008. Đến năm 2013, quyển giáo trình này được sửa chữa bổ sung và tái bản. Hiện nay, quyển giáo trình tái bản này cũng đã trải qua gần 5 năm nên nội dung của quyển giáo trình cần tiếp tục bổ sung, chỉnh sửa cho phù hợp với sự phát triển của khoa học mới. Vì thế, tập thể giảng viên khoa Nhân học đã tiếp tục chỉnh sửa nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng của quyển giáo trình này. Quyển giáo trình Nhân học đại cương mà quý vị đang cầm trên tay là quyển được tái bản lần thứ 2. Bố cục vẫn là 10 chương hai quyển trước, những việc sắp xếp các chương có sự thay đổi để mang tính logic hơn; nội dung của từng chương cũng được bổ sung, chỉnh . sửa lại cho hợp lý hơn, giúp người đọc dễ hiểu và nắm bắt vấn đề nhanh hơn. Tuy đã rất cố gắng cho quyển giáo trình tái bản lần 2 ngày, nhưng chúng tôi tin vẫn còn những điều hạn chế, thiếu sót. Chúng tôi luôn mong nhận được sự góp ý chân tình của các nhà khoa học, các cán bộ giảng dạy và bạn đọc để có thể tiếp tục sửa chữa, bổ sung nâng cao chất
lượng cho lần tái bản tới. Nhân dịp tái bản quyển giáo trình Nhân học đại cương lần thứ hai ngày, chúng tôi chân thành cảm ơn GS.TS. Lương Văn Hy (Khoa Nhân học, Đại học Toronto, Canada) đã luôn đồng hành và đóng góp ý kiến về mặt khoa học cho các bản thảo liên quan đến quyển giáo trình này; và cũng xin gửi lời cảm ơn đến Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đã hỗ trợ và cấp phép tái bản và cấp phép quyển giáo trình để sớm tới tay bạn đọc. NGND.GS TS Ngô Văn Lệ Nguyên Hiệu trưởng Nguyên Trưởng Bộ môn Nhân học
MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU V Chương 1: Những vấn đề chung của nhân học 1 Nguyễn Văn Tiệp- Huỳnh Ngọc Thu Chương 2: Sự xuất hiện con người và các chủng tộc loài người 47 Nguyễn Khắc Cảnh Chương 3: Tộc người và quá trình tộc người 99 Nguyễn Văn Tiệp-Phan Thị Hồng Xuân Chương 4: Kinh tế 138 Ngô Thị Phương Lan Chương 5: Văn hóa 192 Phan Thị Yến Tuyết- Trương Văn Món Chương 6: Ngôn ngữ ; 220 Nguyễn Thị Thanh Bình Chương 7: Tôn giáo 259 Phan Thị Yến Tuyết-Huỳnh Ngọc Thu Chương 8: Thân tộc, Hôn nhân, Gia đình 306 Thành Phần - Đặng Thị Kim Oanh Chương 9: Các hiệp hội và phân tầng xã hội 346 Nguyễn Văn Tiệp - Phạm Thanh Duy Chương 10: Nhân học ứng dụng 388 Ngô Thị Phương Lan - Huỳnh Ngọc Thu - Trương Thị Thu Hằng TÀI LIỆU THAM KHẢO 416 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA NHÂN HỌC
Nhân học là ngành khoa học ra đời vào thế kỉ XIX, lấy con người làm đối tượng nghiên cứu, nhằm mục đích tìm hiểu bản chất con người trong bối cảnh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của từng tộc người, từng xã hội loài người. Quan sát - tham dự và phỏng vấn sâu là những phương pháp nghiên cứu chủ yếu của ngành nhân học. Trong đó, buộc người nghiên cứu phải dấn thân, ba cùng với cộng đồng được xem là đối tượng nghiên cứu. Khi nghiên cứu, các nhà nhân học thường xem xét vấn đề trong bối cảnh rộng lớn hơn và đặt nó trong mối tương quan với các ngành khoa học khác liên quan đến con người, như lịch sử, triết học, tâm lý, giáo dục, chính trị, tôn giáo, xã hội,... Do đó, nhân học luôn thể hiện quan điểm toàn diện và so sánh trong mối tương quan của vấn đề được nghiên cứu. 1. KHÁI NIỆM 1.1. Thuật ngữ Thuật ngữ Nhân học (Anthropology) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ, được ghép lại bởi hai từ anthropos nghĩa là người, con người và logos nghĩa là khái niệm, học thuyết. Vì vậy, có thể gọi Anthropology là khoa học nghiên cứu về con người mà trong một số tài liệu ở Việt Nam gọi là Nhân loại học hay Nhân chủng học. 1.2. Định nghĩa Nhân học là ngành khoa học nghiên cứu tổng hợp về bản chất của con người 1 trên các phương diện sinh học, xã hội, văn 1 hóa của các nhóm người, các cộng đồng tộc người khác nhau, cả về quá khứ của con người cho tới hiện nay. Tuy nhiên cũng có định nghĩa khác: Nhân học nghiên cứu sự tiến hóa của con người, các xã hội và văn hóa khác nhau do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử và tính đa dạng của các xã hội con người trên thế giới ngày này'. Hai định nghĩa này nói rõ nhân học là khoa học nghiên cứu về con 1 Emily A. Schultz, Robert H. Lavenda (2001), Nhâti học - một quan điểm về tình trạng nhăn sinh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 10.
người, nhưng định nghĩa thứ nhất nhấn mạnh tính cụ thể con người. Đó là các nhóm người, các cộng đồng người khác nhau trong tính đa dạng của con người. Và, nghiên cứu con người không chỉ chú trọng vào sự tiến hóa về mặt sinh học mà còn quan tâm đến sự tương tác của các phương diện văn hóa - xã hội. Do đó, định nghĩa một mang tính phổ quát hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay. 2. ĐỐI TƯỢNG, QUAN ĐIỂM NGHIÊN cứu VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC NGÀNH KHOA HỌC KHÁC 2.1. Đối tượng nghiên cứu Cần phải khẳng định rõ rằng, đối tượng nghiên cứu của ngành nhân học là con người Đặt con người được nghiên cứu trong mối quan hệ tương tác rộng lớn hơn với bên ngoài, trong đó nhấn mạnh đến các yếu tổ môi trường tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội, giao lưu tộc người,... đến đối tượng người được nghiên cứu. Vấn đề đặt ra, nhân học đảm nhận chức năng nghiên cứu về con người, vậy các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác sẽ nghiên cứu vấn đề gì và mối quan hệ giữa chúng ra sao? Để trả lời cho câu hỏi này, cần khẳng định, trong nghiên cứu khoa học phải phân biệt giữa khách thể nghiên cứu và đối 2 Grant Evant (cb) (2001), Bức khảm văn hóa châu Á - tiếp cận nhân học, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr. 25. tượng nghiên cứu để tránh sự nhầm lẫn. Khi xem về con người với tư cách là thực thể sinh học-xã hội, lúc đó con người chỉ là khách thể nghiên cứu, chưa phải đối tượng nghiên cứu của bất kỳ ngành khoa học nào. Với khách thể nghiên cứu phong phú, đa diện như con người, để tìm hiểu, nghiên .cứu, buộc phải chia ra nhiều lĩnh vực mang tính chuyên biệt. Mỗi lĩnh vực là đối tượng nghiên cứu của một khoa học chuyên ngành. Do đó, có thể thấy nhiều ngành khoa học hên quan đến con người như y học, sinh học, triết học, văn học, ngôn ngữ, kinh tế, chính trị, luật pháp,... đều có nghiên cứu về con người; những con người lúc này chỉ là khách thể nghiên cứu, vì mang đối tượng nghiên
cứu của các ngành khoa học trên. Đối với nhân học, do muốn tìm hiểu về bản chất của con người để trả lời cho câu hỏi “tại sao họ lại như thế?”, nên đã tiếp cận nghiên cứu con người trong tính toàn diện và so sánh, đối chiếu cả về không gian và thời gian (so sánh đồng đại và lịch đại), nên con người trở thành đối tượng nghiên của ngành khoa học này. Mặc dù, các vấn đề nghiên cứu của nhân học có thể nhận thấy như ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, tôn giáo,... nhưng tất cả vấn đều nhằm hướng đến việc trả lời cho câu hỏi; “Tại sao con người lại như thế?”. Con người trong ngành nhân học không phải là khách thể mà là đối tượng nghiên cứu. 2.2. Quan điểm nghiên cứu Do đối tượng nghiên cứu của nhân học là con người và được xét trong bối cảnh tương tác rộng lớn với bên ngoài, nên quan điểm nghiên cứu của ngành nhân học được chú trọng đến tính toàn diện và so sánh đối chiếu. * Quan điểm toàn diện Trong thực tế, sự phát triển khoa học dù đã có những hiểu biết sâu sắc hơn rất nhiều so với trước đây, sóng dẫu sao sự hiểu biết đó về con người vẫn còn nhỏ bé và hời hợt. Nhận thức về con người là một quá trình vô tận mà ngày nay chúng ta mới đi được chặng đầu. Còn quá nhiều vấn đề về sự tồn tại của con người, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến thế giới tinh thần, tâm linh chưa được hiểu biết thấu đáo. Nói cách khác, chính những thành tựu mới của khoa học hiện đại, đặc biệt là những thành tựu của khoa học chuyên sâu đã làm cho khái niệm con người bị phân thành từng mảng riêng biệt. Trước thực trạng đó, để có những nhận thức đầy đủ hơn về con người, cần có ngành khoa học nhìn toàn diện. Nhân học chính là ngành khoa học có cái nhìn toàn diện đó. Khác với các ngành khoa học khác, nhân học luôn tích hợp thành tựu nghiên cứu của nhiều ngành khoa học để tìm hiểu về con người trong tính toàn diện của nó. Đó là việc sử dụng kết quả khám phá của
các ngành khoa học khác và kết họp chúng với những dữ kiện riêng của mình để tìm hiểu con người. Đặc biệt, xem xét các yếu tố kinh tế, chính trị, lịch sử, văn hóa, xã hội, tôn giáo,... đã tác động với nhau như thế nào, để tạo nên đời sống của con người như chúng ta thấy. Điều đó chứng tỏ, nhân học là ngành học mang tính toàn diện (holistic). Đây chính là quan điểm trung tâm của ngành khoa học này. Chính vì vậy, các nhà nhân học khi nghiên cứu về một cộng đồng người, hay một tộc người thường phải quan tâm đến nhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống của con người, như môi trường sinh thái nơi con người đó cư trú; sự phát triển kinh tế-xã hội ở khu vực này; yếu tố chính trị của quốc gia, khu vực nơi con người sinh sống; tộc người này sống biệt lập hay có sự giao lưu với các tộc người khác; lịch sử hình thành tộc người được nghiên cứu,... Đó chính là quan điểm toàn diện mà các nhà nhân học luôn chú trọng khi nghiên cứu về con người. * Quan điểm so sánh - đối chiếu Bên cạnh quan điểm toàn diện nêu trên, nhân học khi nghiên cứu cần đến một quan điểm nữa là so sánh - đối chiếu. Do bởi, đối tượng nghiên cứu là con người của ngành nhân học có phạm vi thời gian và không gian lớn; và nhân học không chỉ quan tâm đến các tộc người sống trong một không gian nhất định, mà còn quan tâm đến tiến trình xuất hiện và tiến hóa về mặt sinh học của con người từ xa xưa đến hiện nay. Mục đích nhận thấy được sự khác nhau, cũng như sự đa dạng trong phạm vi không gian và thời gian của con người trên thế giới. Như vậy, nhân học nghiên cứu về con người theo hai chiều kích: lịch đại và đồng đại, để tìm hiểu sự đa dạng của con người qua hình thể cũng như đời sống văn hóa - xã hội, phong tục - tập quán của họ. 2.3. Mối quan hệ với các ngành khoa học khác Từ hải quan điểm nghiên cứu trên của ngành nhân học cho thấy, ngành khoa học này cần có mối quan hệ với nhiều ngành khoa học khác. Mục đích của các mối quan hệ này là nhằm kết hợp để giải thích về sự đa dạng của con người trên thế giới và cũng hướng đến việc trả
lời một cách tốt nhất cho câu hỏi: “Con người tại sao lại như thế?”. Các ngành khoa học được xem là có quan hệ với ngành nhân học gồm: * Sử học Nhân học có mối quan hệ chặt chẽ với sử học bởi vì nhân học nghiên cứu con người về các phương diện sinh học, văn hoá, xã hội thường tiếp cận từ góc độ lịch sử (theo lịch đại). Một điều dễ nhận thấy trong các bộ sử xa xưa đến nay có chứa đựng khá nhiều tài liệu nhân học mà các nhà nhân học khi nghiên cứu về con người không thể không quan tâm; đặc biệt những vấn đề Liên quan đến lịch sử của các tộc người, các nhóm địa phương,... Thông thường, những vấn đề nghiên cứu về con người của nhân học không thể tách rời bối cảnh lịch sử của con người đó cả về không gian lẫn thời gian. Thiếu tri thức lịch sử, nhà nhân học sẽ không thể tiến hành nghiên cứu có hiệu quả. . * Triết học Triết học là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Quan hệ giữa nhân học và triết học là quan hệ giữa một ngành khoa học cụ thể với một ngành khoa học về thế giới quan khoa học. Triết học là nền tảng về thế giới quan. Nhân học là một ngành khoa học cụ thể. Nhân học sử dụng quan điểm về thế giới quan của triết học để giải đáp những vấn đề thực tiễn sinh động trong cuộc sống con người. Các kết quả nghiên cứu của nhân học thường không thể những quy luật chung nhất về sự phát hiện của xã hội loài người và đây cũng chính là quan điểm triết học. *Xã Hội Học Nhân học và Xã hội học có ảnh hưởng tương quan lẫn nhau. Nhiều khái niệm mang tính lý thuyết của xã hội học bắt nguồn từ nhân học. Ngược lại, xã hội học cũng có tác động trở lại đối với nhân học về mặt phương pháp luận nghiên cứu, ví dụ quan điểm cơ cấu-chức năng của Emile Durkheim đã ảnh hưởng tới công trình nghiên cún của các nhà nhân học.
Trong những thập niên gần đây, nhân học mở rộng đối tượng nghiên cứu tới các xã hội công nghiệp hiện đại. Để tiếp cận vấn đề nghiên cứu, nhân học đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng của xã hội học và các phương pháp khác. Trái lại, các nhà xã hội học cũng đã sử dụng khá quen thuộc những phương pháp nghiên cứu của nhân học như phương pháp quan sát tham gia, phỏng vấn sâu. Nhiều lúc các nhà nhân học và xã hội học đã phối hợp nghiên cứu về những chủ đề mà ranh giới phân biệt giữa chúng nhiều lúc rất mờ nhạt. * Địa lí học Nhân học và địa lí học có mối quan hệ nhau trong lĩnh vực nghiên cứu về sinh thái (bao gồm cả sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn) nhằm giải quyết mối quan hệ tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và hành vi ứng xử của con người với môi trường xã hội và nhân văn. Nhân học sinh thái liên quan với địa lý kinh tế trong việc phân vùng lãnh thổ mà các tộc người sinh sống, địa - văn hóa để có cái nhìn tổng thể trong mối quan hệ đa chiều: tự nhiên - con người - kinh tế - văn hóa và hành vi ứng xử. * Kinh tế học Nghiên cứu liên ngành giữa nhân học và kinh tế học trong lĩnh vực nhân học kinh tế. Nhân học kinh tế vận dụng một số quan niệm,'phạm trù lý thuyết của kinh tế học vào công tác nghiên cứu của mình; ví dụ lý thuyết về vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, thị trường, v.v. Nhân học không đi sâu nghiên cứu các quy luật của kinh tế học mà tập trung tiếp cận trên bình diện văn hóa - xã hội của quá trình hoạt động kinh tế như cách thức chế tạo công cụ, hình thức tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng mang yếu tố văn hóa tộc người, địa phương, nghề nghiệp phản ánh truyền thống văn hóa tộc người. * Tâm lý học Mối quan hệ giữa nhân học và tâm lý học xuất hiện trong lĩnh vực nghiên cứu về nhân học tâm lý hay tâm lý tộc người. Trong tâm lý
học, sự quan tâm chủ yếu dành cho việc phân tích những nét tâm lí của cá nhân trong những kinh nghiệm nghiên cứu xuyên văn hóa; còn nhân học tập trung nghiên cứu tính cách dân tộc, ý nghĩa của tính tộc người với tư cách là tâm lý học cộng đồng tộc người lại có ý nghĩa to lớn. Mối quan hệ giữa nhân học và tâm lý thể hiện xu hướng tâm lý trong nghiên cứu văn hóa và các lý thuyết văn hóa theo xu hướng nhân học tâm lý trong những thập niên gần đây. * Luật học Nhân học pháp luật có Liên quan đến luật học, do bời nhân học luật pháp nghiên cứu những nhân tố văn hóa - xã hội tác động đến luật pháp trong các nền văn hóa và các tộc người khác nhau. Nhân học luật pháp còn nghiên cứu đến luật tục là hiện tượng phổ quát của nhân loại trong thời kỳ phát triển tiền công nghiệp và tồn tại cho đến ngày nay ở các dân tộc trên thế giới. Các nhà nhân học nghiên cứu mối quan hệ giữa luật tục và luật pháp để từ đó vận dụng luật tục và luật pháp trong quản lý xã hội và phát triển cộng đồng. * Tôn giáo học Cộng đồng tộc người và cộng đồng tôn giáo là hai dạng thức khác nhau của cộng đồng người và có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau trong quá trình phát triển. Tôn giáo được xem như là thành tố văn hóa của tộc người và dĩ nhiên nhân học phải nghiên cứu tôn giáo. Khác với triết học tôn giáo và tôn giáo học, nhân học tôn giáo quan tâm tới việc nghiên cứu các hình thái tôn giáo sơ khai, các tôn giáo dân tộc và tôn giáo thế giới trong mối quan hệ với văn hóa tộc người. Nhân học tôn giáo đi sâu nghiên cứu các biểu tượng tôn giáo, các nghi thức, các hành vi, lễ hội và các thiết chế xã hội tôn giáo khác nhau. Nhân học tôn giáo còn quan tâm nghiên cứu mối quan hệ trong sinh hoạt tôn giáo với giới tính, các phong trào tôn giáo, xung đột tôn giáo trong mối quan hệ giữa các dân tộc và các quốc gia. 3. LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH NHÂN HỌC
Nhân học tồn tại với tư cách là một ngành khoa học thực sự chỉ được ra đời vào giữa thế kỉ XIX, mặc dù trước đó trong các thời kì cổ và trung đại những tri thức về nhân học như sự khác biệt giữa các chủng tộc, các phong tục tập quán và văn hóa của các dân tộc khác nhau trên hành tinh được ghi chép lại trong các biên niên sử, địa chí; tiêu biểu là tác phẩm Lịch sử nổi tiếng gồm 9 quyển của Hê-rô-đốt ở Hy Lạp hay tác phẩm Sử kỉ của Tư Mã Thiên ở Trung Quốc. Nhân học ra đời dựa trên những cội nguồn tư tưởng triết học và khoa học, gắn liền với thời kì phát triển của chủ nghĩa tư bản đang lên ở châu Âu chống lại chế độ phong kiến, gắn liền với những phát kiến địa lí và sau đó là sự tiếp tục mở rộng thuộc địa của chủ nghĩa thực dân đến các nước Á, Phi, Mỹ-Latinh. Châu Âu từ sau thế kỉ XVI cũng đã chuyển mình từ thế giới thần thoại sáng thế giới của khoa học với sự khẳng định thế giới quan tiến hóa dựa vào giả thuyết nguồn gốc vũ trụ của E. Kant (1755) và Laplace (1796) áp dụng trong thiên văn học v.v. Trong lĩnh vực sinh vật học, với sự ra đời của những nghiên cứu giải phẫu, sinh lí học cơ thể người, trong thời kì Phục hưng nhờ đó mà kho tàng kiến thức của con người về chính mình và các động vật có vú phong phú hơn,... Đó là những yếu tố tạo nên một bước ngoặt lớn cho việc nghiên cứu lịch sử tự nhiên. Loài người cũng trở thành đối tượng nghiên cứu về lịch sử tự nhiên trên cơ sở công nhận mình là một loài sinh vật. Lúc bấy giờ đã diễn ra một cuộc cách mạng vĩ đại gắn liền với sự ra đời của các tác phẩm nổi tiếng: Hệ thống tự nhiên của Carolus Lineaus năm 1735, đặc biệt là cuốn Nguồn gốc các loài của Charles Darwin năm 1859 đã khiến cho việc nghiên cứu lịch sử tự nhiên và con người được đẩy mạnh. Đó là lý do của sự ra đời ngành nhân học dùng để chỉ khoa học nghiên cứu về con người. Nhưng lúc bấy giờ, người ta chủ yếu nghiên cứu con người về phương diện sinh vật học như nguồn gốc và sự tiến hóa của con người và các chủng tộc. Như vậy khái niệm nhân học có phạm vi hẹp hơn so với hiện nay. Từ thế kỉ XVI-XIX, những cuộc phát kiến địa lý được phát triển
nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên và chinh phục thuộc địa các dân tộc ngoài châu Âu nhằm phục vụ cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Sự giao lưu tiếp xúc giữa người châu Âu và các dân tộc khác ngoài châu Âu đã cho thấy các cư dân, dân tộc trên thế giới không chi khác nhau về hình thể mà cả văn hóa với tất cả tính đa dạng của nó. Người ta ngày càng quan tâm nhiều hơn đến việc nghiên cứu các dân tộc và các nền văn hóa khác, tất cả những điều này đã khiến cho đối tượng nghiên cứu nhân học không chỉ bó hẹp trong việc nghiên cứu phương diện sinh học của con người mà cả văn hóa và xã hội. Nhân học được hình thành và dần dần định hình từ đó. Dấu ấn của nó còn để lại trong lịch sử phát triển nhân học. Tại châu Âu như Hà Lan, Đức, Pháp nói đến nhân học về cơ bản cũng có nghĩa là nói về nhân học hình thể. Cùng thời gian này ngành dân tộc học cũng ra đời để nghiên cứu về các dân tộc và văn hóa của họ. Dân tộc học quan tâm nghiên cứu đến văn hóa của các dân tộc và ít chú trọng về mặt sinh học của con người. Dân tộc học được phát triển ở Pháp, Đức, Nga và các nước chịu ảnh hưởng; trong khi đó nhận học (cả phương diện sinh học và văn hóa) lại phát triển ở Anh, Mỹ và các nước chịu ảnh hưởng với xu hướng chung là thiết lập một ngành khoa học mang tính bao trùm gọi là nhân học - nghiên cứu toàn diện con người cả về con người tự nhiên và con người xã hội. Như thế, dân tộc học dường như chỉ tương ứng với nhân học văn hóa - xã hội, mặc dù trong quá trình phát triển chúng có những nét riêng biệt. Thuở ban đầu tuy có khác nhau về tên gọi những nhân học và dân tộc học vẫn bó hẹp đối tượng của mình là những cư dân ngoài châu Âu, đặc biệt là các tộc người được gọi là “nguyên thủy”, “dã man” hoặc là các cư dân còn ở trạng thái văn minh nông nghiệp. Nghiên cứu cư dân châu Âu thuộc nền văn minh công nghiệp là đối tượng của các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác như lịch sử, xã hội học, kinh tế, luật học v.v. Vào giữa thế kỉ thứ XIX ở một số nước châu Âu đã thành lập các hội nghiên cứu về địa lý, nhân học, dân tộc học, trong đó đã tích lũy
được nhiều thông tin về những đặc điểm và sự vận hành của các nền văn hóa khác nhau. Hội dân tộc học Paris được thành lập đầu tiên vào năm 1839 sau đó cải tổ thành Hội nhân học năm 1859. Ở New York đã thành lập Hội dân tộc học Mỹ vào năm 1842. Hội dân tộc học Ảnh ra đời vào năm 1871 và sau đó hàng loạt các Hội nhân học và Dân tộc học được thành lập ở châu Âu; cùng với nó các bảo tàng nhân học và dân tộc học cũng như các tạp chí nhân học và dân tộc học ra đời. Với sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và với sức mạnh của công nghiệp đang diễn ra ở các nước thuộc địa và phụ thuộc phá vỡ các xã hội tiền công nghiệp truyền thống, phong hào đấu hành giải phóng dân tộc đã đưa hầu hết các dân tộc thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân vào nửa sau thế kỉ XX. Việc nghiên cứu các cư dân, dân tộc thuộc các nước thuộc địa và phụ thuộc để phục vụ cho chính sách của chủ nghĩa thực dân không còn là nhu cầu cấp bách nữa. Đã đến lúc đối tượng nghiên cứu của Nhân học cần phải thay đổi và mở rộng. Dù là cư dân thuộc các nước tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa, thế giới ngày nay đang chuyển mình sang xã hội công nghiệp và hậu công nghiệp mà quyền con người và quyền của từng dân tộc được đề cao. Với sự tiếp xúc ngày càng mạnh mẽ giữa châu Âu và các nền văn minh ngoài châu Âu, chủ nghĩa trung tâm châu Âu (Eurocentrisme), tức quan điểm lấy chuẩn mực châu Âu làm thước đo giá trị văn minh ngày càng bị phê phán vì bị cho rằng phân biệt chủng tộc. Từ đấy dẫn đến tình hình buộc người nghiên cứu có cái nhìn công bằng hơn, toàn diện hơn những giá trị văn hóa ngoài châu Âu. Đã đến lúc đối tượng của nhân học hay dân tộc học cần được mở rộng với cái nhìn tổng thể qua sự so sánh đối chiếu về con người không chỉ ở các nước châu Âu, Bắc Mỹ là những nước công nghiệp phât triển mà cả châu Âu, châu Á, châu Phi, úc. Bấy giờ dù là nhà nhân học hay dân tộc học không chỉ nghiên cứu các nước ngoài châu Âu mà cả các nước của chính châu Âu và Bắc Mỹ, không chỉ nghiên cứu các cư dân nông nghiệp mà cả những cư dân công nghiệp và hậu công nghiệp, không chỉ nghiên cứu
con người ở nông thôn mà cả. con người ở đô thị. Trong bối cảnh công nghiệp hóa và toàn cầu hóa, nhân học và dân tộc học phải đối mặt với những thay đổi to lớn, đòi hỏi phải mở rộng đối tượng và phương pháp nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu thay đổi từ xã hội tĩnh sang xã hội động, từ xã hội có qui mô nhỏ có ranh giới rõ rệt sang xã hội công nghiệp với nhũng quan hệ xã hội đan xen chằng chịt. Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu cũng thay đổi từ góc độ hẹp sang góc độ rộng hơn, mang tính phổ biến hơn. Dù là nhân học hay dân tộc học, xu hướng nglũên cứu hên ngành giữa nhân học/dân tộc học vói các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác và xu hướng xích lại gần nhau, hòa vào nhau giữa nhân học và dân tộc học đến mức khó phân biệt rạch ròi. Sự tiếp cận nghiên cứu Hên ngành đã xuất hiện các phân ngành nghiên cứu sâu về từng lĩnh vực như nhân học/dân tộc học kinh tế, nhân học/dân tộc học môi trường, nhân học /dân tộc học tôn giáo, nhân học/dân tộc học đô thị, nhân học/dân tộc học du lịch v.v. Dù truyền thống lịch sử khoa học ở các nước có khác nhau, nhưng xu hướng xích lại gần nhau giữa dân tộc học và nhân học văn hóa - xã hội đang diễn ra và những nhà nhân học hay dân tộc học vẫn coi nhau như những người đồng nghiệp trong Hội nhận học - dân tộc học của thế giới. ở Việt Nam, tri thức dân tộc học có trong các bộ địa chí và lịch sử do các nhà sử học biên soạn, về mặt nghiên cứu dân tộc học, sau khi thực dân Pháp bình định xong Việt Nam vào đầu thế kỉ XX, Pháp đã lập ra một số cơ quan nghiên cứu nhằm phục vụ cho chính sách cai trị của chứng. Các nghiên cứu dân tộc học buổi đầu phần lớn là các học giả, các linh mục, các quan cai trị người Pháp. Những công hình nghiên cứu được công bố trên các tập san của Trường Viễn Đông bác cổ (BEFEO), hay trên tập san Những người bạn cố đô Huế (BAVH), Tạp chí Đông Dương (RI) và sau đó là hàng loạt công trình nghiên cún của các học giả Việt Nam như Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Huyên,... Sau năm 1954, Tổ dân tộc học thuộc Viện Sửtiền thân của Viện Dân tộc học được thành lập năm. 1968 ở miền Bắc. Dân tộc học Việt Nam với tư cách là một lĩnh vực khoa học được đào
tạo đại học chính thức từ đầu thập niên 60 cuả thế kỉ XX với sự ra đời của Bộ môn dân tộc học tại khoa Sử, Trường Đại học Tổng họp Hà Nội ở miền Bắc và Đại học Văn khoa tại Sài Gòn ở miền Nam. Nếu như ở miền Bắc XHCH về mặt đào tạo và nghiên cứu chịu ảnh hưởng sâu đậm của trường phái dân tộc học Xô Viết, vì phần lớn các nhà dân tôc học được đào tạo từ Liên xô cũ và các nước XHCH Đông Âu, thì ở miền Nam dưới chế độ VNCH, dân tộc học chịu ảnh hưởng của dân tộc học Pháp nhiều hơn là chịu ảnh hưởng của Nhân học Mỹ. Sau giải phóng đất nước năm 1975, ảnh hưởng của dân tộc học Xô Viết vẫn sâu đậm hon cả vì phần đông các nhà dân tộc học đầu ngành đều được đào tạo từ Liên xô cũ. Do chịu ảnh hưởng của trường phái dân tộc học Pháp và Liên Xô (cũ), dân tộc học được coi là một chuyên ngành khoa học lịch sử và được đào tạo từ những thập niên 60 của thế kỷ XX. Trong những thập niên qua, dân tộc học Việt Nam đã có những thành tựu khoa học đáng kể góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để hội nhập khoa học với thế giới trong bối cảnh khu vực hóa và toàn cầu hóa, ngành Dân tộc học Việt Nam vào thập niên đầu của thế kỷ XXI đã tiến hành các cuộc hội thảo và đi đến nhất trí là: về mặt đào tạo tách bộ môn dân tộc học ra khỏi khoa lịch sử, đổi tên ngành Dân tộc học thành Nhân học, xây dựng và phát triển ngành Nhân học trở thành một ngành khoa học độc lập ngang hàng với sử học và các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác. Tiên phong mở đầu là sự thành lập Bộ môn Nhân học thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2002, sau đó là khoa Nhân học vào năm 2008. Đồng thời Bộ môn nhân học của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng thành lập năm 2007 và tiến hành đào tạo năm 2010. Viện Dân tộc học và Viện Nghiên cứu con người thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam cũng tiến hành đào tạo Tiến sĩ ngành Nhân học văn hóa. Tương lai của ngành nhân học là rộng mở, nhưng trước mắt vẫn còn nhiều khó khăn
thách đố trên con đường phát triển. Để xây dựng ngành nhân học chúng ta phải thừa kế những thành tựu của ngành dân tộc học lâu nay, tiếp thu những tri thức nhân học thế giới về lý luận và phương pháp nghiên cứu, đặt trong bối cảnh lịch sử - cụ thể của đất nước để xây dựng và phát triển ngành. 4. CÁC LĨNH Vực NGHIÊN cứu CỦA NHÂN HỌC Nhân học là ngành khoa học có phạm vi rộng hơn cả về lịch sử, địa lí và có tính toàn diện trong cách tiếp cận nghiên cứu con người so với các ngành học khác. Vì vậy, phạm vi nghiên cứu của nhân học là rất rộng. Theo truyền thống, các nhà nhân học đã chọn cách tiếp cận bản chất con người theo hai hướng khác nhau: nhân học hình thể và nhân học văn hóa. 4.1. Nhân học hình thể Nhân học hình thể là chuyên ngành ra đời đầu tiên và sớm nhất của ngành nhân học. vấn đề quan tâm chính của các nhà nhân học hình thể là con người với tư cách là một thực thể sinh vật. Mục đích của họ là khám phá ra những nét tương đồng và dị biệt của con người và các loài động vật khác. Nhân học hình thể tìm kiếm câu trả lời cho hai dạng câu hỏi riêng biệt. Dạng đầu tiên gồm những câu hỏi về sự xuất hiện về con người và sự tiến hóa sau này để tìm hiểu nguồn gốc và quá trình hình thành con người. Phân ngành của nhân học hình thể nghiên cứu về vấn đề này gọi là cổ nhân học (Human paleontology hay Paleoanthropology). Dạng câu hỏi thứ hai trả lời về vấn đề như thế nào và tại sao các cư dân đương đại khác nhau về mặt sinh học (tập trung đề cập tới sự đa dạng của con người human variation). * CỔ nhân học có nhiệm vụ nghiên cứu các hóa thạch của con người, tiền thân của con người để tái hiện lại sự tiến hóa của con người từ người tối cổ đến người cổ và người khôn ngoan (Homo sapiens). Trong quá trình nghiên cứu sự tiến hóa của con người, các nhà cổ
nhân học còn sử dụng các thông tin địa chất học về các biến đổi khí hậu, môi trường, các loại thực vật và động vật qua thời gian để lý giải vấn đề môi trường và điều kiện sống của các hóa thạch người trong quá hình tiến hoá. * Linh trưởng học chuyên nghiên cứu những động vật có họ hàng gần gũi nhất với con người- loài linh trường từ những hóa thạch của chúng qua các thời kỳ địa chất cho đến các nhóm linh trưởng còn tồn tại hiện nay như khỉ, vượn, đười ươi v.v. Từ việc nghiên cứu các loài linh trưởng, các nhà nhân học cố gắng khám phá các đặc điểm riêng của con người khác với các đặc điểm thừa hưởng được từ các loài linh trường. Với thông tin này, họ có thể nghiên cứu tổ tiên thời kỳ tiền sử của chúng ta như thế nào. Những kết luận từ việc nghiên cứu loài linh trưởng hiện nay so sánh với các hóa thạch linh trưởng giúp cho chúng ta hiểu biết đầy đủ hơn về nguồn gốc của loài người và văn hóa của chúng ta thời tiền sử. Nhiệm vụ quan trọng tiếp theo của nhân học hình thể là nghiên cứu sự đa dạng của con người, giải thích tại sao hiện nay ở các vùng trên trái đất con người khác nhau về đặc điểm sinh học và hình thể? Tất cả loài người hiện nay đều thuộc một loài Homo sapiens mà tất cả mọi người có thể lai giống với nhau mặc dù về hình dáng cơ thể, màu da, tóc, mắt khác nhau. * Chủng tộc học ra đời khá sớm ở châu Âu để nghiên cứu các chủng tộc khác nhau trên thế giới khi tiến hành phân loại cư dân trên thế giới thành bốn đại chủng: ơrôpêôit, Môngôlôit, Nêgrôit và Ôxtralôit và các phân cấp nhỏ hơn như tiểu chủng và các nhóm loại hình khi dựa vào tổng hợp các đặc trưng nhân học chủ yếu về hình thái sinh lí của con người. Những nhà khoa học chân chính đã chứng minh rằng, những đặc trưng phân loại này không mảy may hien quan đến trí tuệ của con người, đến sự phát triển của xã hội và đang đấu tranh chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc khi phân chia loài người thành những “chủng tộc thượng đẳng” có khả năng phát triển mọi mặt về trí tuệ, tinh thần là người xây dựng nền văn minh nhân loại, đối lập
với những “chủng tộc hạ đẳng”, được xem là hèn kém, dốt nát cần được khai hoá. Phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ngày càng dâng cao và ngày ở nước Mỹ, nhiều nhà nhân học đang vạch trần và phê phán những định kiến sai lầm và phản động của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Để hiểu sự đa dạng sinh học có thể quan sát được ở loài người hiện nay, các nhà nghiên cứu hình thể đã sử dụng các nguyên tắc, khái niệm và kĩ thuật của ba ngành: nghiên cứu gen người (nghiên cứu các đặc điểm của con người di truyền), sinh học dân số (nghiên cứu sự tác động của môi trường và sự tương tác với các đặc điểm dân số) và nghiên cứu dịch tễ học (nghiên cứu như thế nào và tại sao các bệnh tật ảnh hưởng tới cộng đồng và cư dân theo các cách khác nhau). Nghiên cứu sự đa dạng của con người vì thế nó liên quan đến các lĩnh vực nghiên cứu khác. Những người tự coi mình là nhà nhân học hình thể quan tâm nhiều đến các cộng đồng người với sự khác biệt về mặt sinh học. 4.2. Nhân học văn hóa Một hệ quả của sự tiến hoá của nhân loại có tác động sâu xa đến bản chất của con người là sự xuất hiện của văn hóa. Văn hoá là sự tập hợp những hành vi và quan niệm mà con người học hỏi được với tư cách là thành viên của xã hội. Con người dùng văn hóa để thích ứng với thế giới trong đó họ đang sống và thay đổi nó. Các nhà nhân học đôi khi phân biệt văn hóa (Culture) và những nền văn hóa (cultures). Văn hoá được xem là thuộc tính của nhân loại nói chung - đó là khả năng sáng tạo ra những hành vi và quan niệm để con người có thể tồn tại như là cơ thể sinh học. Ngược lại, những nền văn hóa là những truyền thống khác nhau bao gồm những hành vi và quan niệm mà những tập thể người học hỏi được vì họ là thành viên của xã hội đó. Mỗi truyền thống có thể được gọi là một nền văn hóa riêng mặc dù biên giới ngăn cách giữa một nền văn hóa khác thường khó xác định. Nhân học văn hóa được chia ra làm ba chuyên ngành nhỏ hơn:
Die ersten 20 Seiten werden angezeigt. Laden Sie das Dokument herunter, um alles zu sehen.
Noch keine Kommentare. Seien Sie der Erste!
Kommentare (0)
Noch keine Kommentare. Seien Sie der Erste!