Seite 1
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG CHO CHÍNH PHỦ VAY ĐỂ GIẢI QUYẾT NHỮNG KHÓ KHĂN VỀ NGÂN SÁCH: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHÍNH SÁCH *** 1. Thông lệ trên thế giới trong việc Chính phủ vay Ngân hàng Trung ương khi gặp khó khăn về ngân sách Trên thế giới, việc Ngân hàng Trung ương (NHTW) cho Chính phủ vay để giải quyết những khó khăn về tài khóa được quy định theo các điều khoản pháp lý khác nhau. Khảo sát toàn cầu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tại 152 nước theo các trình độ phát triển, vị trí địa lý và chế độ tỷ giá khác nhau cho thấy kết quả như sau: có tới 51/152 nước được khảo sát cấm NHTW cho Chính phủ vay; 41/152 (27%) nước được phép cho Chính phủ vay và 57/152 (37,5%) cho Chính phủ ứng trước, nói cách khác, có 98 nước hay gần 2/3 số nước được khảo sát được phép cho Chính phủ vay dài hạn và ứng trước (vay ngắn hạn); còn lại chỉ có 3 quốc gia là không có điều khoản pháp lý quy định về vấn đề này. Dưới đây chi tiết hóa các quy định cụ thể. a) Ngăn cấm hoàn toàn. Tại nhiều quốc gia, NHTW bị cấm không được cấp vốn cho chi tiêu của Chính phủ tại thị trường sơ cấp, hoặc không được cung cấp các khoản vay không an toàn. Thậm chí, nhiều NHTW còn bị cấm mua trái phiếu chính phủ tại các thị trường thứ cấp, vì hành động đó cũng được coi là cấp vốn gián tiếp. Việc cấm đoán này được thực hiện theo một số cách, ví dụ như đặt ra mức trần cho số lượng tương đối các trái phiếu chính phủ mà NHTW được phép giữ trong bảng cân đối của mình. Các quốc gia cho phép NHTW cấp vốn cho Chính phủ trong những trường hợp đặc biệt cũng được đưa vào trong nhóm này. b) Tiếp cận ngắn hạn hoặc các khoản ứng trước từ nguồn vốn của NHTW. Các điều khoản tương đối ít chặt chẽ hơn cho phép Chính phủ đôi khi được cấp vốn từ NHTW. Về cơ bản, số tiền này bao gồm những khoản ứng trước hoặc thấu chi trong tài khoản của Chính phủ tại NHTW, nhằm mục đích bù đắp cho những thâm hụt theo mùa vụ của nguồn thu Chính phủ. Thông thường, có quy định đưa ra mức trần cho các khoản vay và đòi hỏi Chính phủ phải trả lại ngay trong năm tài khóa đó. Mức trần có thể là một giá trị tiền chính xác nào đó, hoặc tỷ lệ phần trăm nào đó của các khoản thu/chi Chính phủ trong những năm tài khóa trước, hoặc một bộ phận trên tổng số nợ của NHTW. Lãi suất có thể được áp dụng, hoặc cũng có thể không được đề cập rõ ràng theo luật (chi tiết xem dưới đây). www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1
Seite 2
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang c) Tín dụng hoặc cấp vốn dài hạn tại thị trường sơ cấp. Nhóm này bao gồm các điều luật cho phép NHTW được cung cấp tiền trực tiếp cho Chính phủ với kỳ hạn dài hơn một năm, hoặc mua trái phiếu chính phủ trên thị trường sơ cấp, bất kể NHTW có được trao quyền ứng trước hay không. Luật cũng có thể (hoặc không) bao gồm cả nhiều điều kiện tài chính cho các khoản vay hoặc những hạn chế về số lượng tiền cho vay. Những quốc gia có điều luật cho phép NHTW thay mặt hoặc cung cấp vốn cho Chính phủ trả nợ nước ngoài, hoặc các điều luật đòi hỏi NHTW phải cung cấp tiền cho Chính phủ – ví dụ như cung cấp dự trữ ngoại tệ – cũng được đưa vào nhóm này. d) Không có điều khoản quy định nào về việc NHTW cho chính phủ vay. Tại một số (3) quốc gia không có điều luật nào cấm NHTW cho Chính phủ vay. e) Một số hình thức khác của việc cấp vốn NHTW. Nhóm cuối cùng là các quốc gia với những điều luật cho phép NHTW cấp vốn cho Chính phủ dưới những hình thức cụ thể, ví dụ những khoản vay cho các hoạt động kinh tế với sự tham gia của nhà nước, hoặc cấp vốn cho các định chế bảo hiểm tiền gửi thuộc sở hữu nhà nước hoặc Chính phủ để đối phó với các khủng hoảng tài chính. Các điều luật cho phép NHTW chuyển các khoản lãi chưa thực hiện (unrealized profits) cho Chính phủ – cùng với những điều chỉnh về tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền trong giỏ dự trữ ngoại tệ – cũng được gộp vào trong nhóm này. – Theo vị trí địa lý Đáng lưu ý là tại châu Âu (41 nước được khảo sát) có tới 36/41 nước hay 88% cấm NHTW cho Chính phủ vay với nhiều hạn định được quy định trong các thỏa thuận của Cộng đồng châu Âu (Điều 101). Ngược lại, châu Phi (37 nước) và châu Á – Thái Bình Dương (CATBD) (19 nước) có vẻ "dễ dãi" hơn nhiều, tương ứng chỉ có 1 và 2 nước cấm tín dụng từ NHTW. Về khoảng trống pháp lý, lưu ý là châu Á Thái Bình Dương, châu Âu có lần lượt 2 và 1 nước không hề có quy định về việc NHTW cho Chính phủ vay; trong khi đó, tất cả các nước châu Phi, Trung Đông và Trung Á (25 nước) và Tây Bán cầu (29 nước) lại có quy phạm pháp luật về vấn đề này. Các nước 2 khu vực sau cũng “dung hòa” hơn trong việc cho Chính phủ vay từ NHTW khi chỉ có tương ứng gần 35% và 50% số nước cấm hoạt động này. Riêng với các nước Tây Bán cầu, các nước Mỹ Latin và Caribê có chính sách cấm nghiêm ngặt hơn nhiều. Một số nước như Brazil, Guatemala hay Chile thậm chí còn đưa các điều khoản cấm NHTW cho Chính phủ vay vào Hiến pháp. Việc các quốc gia châu Âu và Mỹ Latin có chính sách cấm nghiêm ngặt nhất có lẽ xuất phát từ các biến cố lớn xảy ra trong quá khứ, ví dụ như lạm phát tăng nhanh do NHTW cấp vốn liên tục để bù đắp cho thâm hụt ngân sách của Chính phủ. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2
Seite 3
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Nguồn: IMF Central Bank Legislation Database và Báo cáo Thường niên về Thỏa thuận Trao đổi và Hạn chế Giao dịch. Danh sách các quốc gia phát triển phù hợp với danh sách được IMF lựa chọn, các quốc gia mới nổi phù hợp với Cơ sở dữ liệu Các quốc gia Mới nổi của Standard&Poor, các nước đang phát triển bao gồm phần còn lại. Ghi chú:Tại một số quốc gia, pháp luật cho phép NHTW cung cấp cả tín dụng lẫn tiền ứng trước (advance) cho chính phủ. Trong các trường hợp này, để tránh bị trùng lặp, các tác giả chỉ tính mảng tín dụng thôi.* – Theo trình độ phát triển Các điều khoản pháp lý của việc NHTW cấp vốn cho Chính phủ của một nước có vẻ như trái ngược với trình độ phát triển của nước đó. Tại 2/3 các nước phát triển, NHTW không được cấp vốn để bù đắp thâm hụt tài khóa, trong khi con số đó tại các nền kinh tế mới nổi là gần 1/2, và chỉ có khoảng 1/5 tại các quốc gia đang phát triển. Trong khi đó, việc cho phép NHTW cung cấp khoản ứng trước cho Chính phủ lại là đặc điểm chung của hơn một nửa các quốc gia đang phát triển trong mẫu nghiên cứu Một trong những lý do giải thích cho hiện tượng này là hệ thống thuế của rất nhiều quốc gia đang phát triển không đảm bảo được nguồn thu ổn định cho Chính phủ. Với việc các thị trường vốn còn khá sơ khai và Chính phủ không có được nguồn thu như mong muốn cho các nhu cầu chi tiêu của mình, những khoản vay ngắn hạn từ NHTW giúp cho nguồn thu chính phủ ổn định hơn. – Theo chế độ tỷ giá hối đoái Từ một góc nhìn khác, các quốc gia áp dụng hệ thống tỷ giá hối đoái linh hoạt thường nghiêm nhất trong việc cấm NHTW cho vay Chính phủ. Bên cạnh các quốc gia châu Âu, có nhiều nước khác cũng áp dụng chính sách lạm pháp mục tiêu. Chính sách này, về cơ bản, được hỗ trợ bởi hệ thống những thể chế, trong đó, có điều khoản quan trọng là không cho phép NHTW cấp vốn nhằm giải quyết thâm hụt tài khóa, với mục đích nhằm tăng sự độc lập về chính trị và trong hoạt động của NHTW. Mặt khác, khoảng gần một nửa các quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái trung gian và một nhóm các quốc gia sử dụng chế độ neo tỷ giá thông thường – áp dụng các điều kiện khá lỏng lẻo cho việc cấp vốn từ NHTW. Đây là điểm yếu tiềm tàng dễ gây tổn thương cho hệ thống hối đoái và làm cho lãi suất bị sai lệch theo hướng tăng cao khi các khoản vay lớn bắt đầu hiện thực hóa. 2. Một số quy định cụ thể về việc NHTW cho Chính phủ vay Như đã nêu, tại rất nhiều các nền kinh tế đang phát triển, NHTW được phép cho Chính phủ vay. Phần này tập trung xem xét: (1) những đối tượng được hưởng lợi www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3
Die ersten 3 Seiten werden angezeigt. Laden Sie das Dokument herunter, um alles zu sehen.
Kommentare (0)
Noch keine Kommentare. Seien Sie der Erste!