Giáo trình kinh tế học đại cương - ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM

UN
Uni24h
0 Downloads
179
0

Inhalt des Dokuments

Trang 1

t Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG Đ Ạ I HỌC s ư PHẠM K Ỹ THUẬT THÀNH PHŨ Hồ CHÍ MINH TRÀN ĐĂNG THỊNH (Chủ biên) - NGUYỄN THỊ THANH VÂN HUYNH THỊ CÂM TU - PHAN THỊ KIM PHƯƠNG GIÁO TRÌNH KINH TÉ HỌC ĐẠI CƯƠNG

Trang 2

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH TS. Trần Đăng Thịnh (Chủ biên) Ths. Nguyễn Thị Thanh Vân - Ths. Huỳnh Thị cẩm Tú Ths. Phan Thị Kim Phương GIÁO TRÌNH KINH TÉ HỌC ĐẠI CƯƠNG NHÀ XUẨT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU Trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước ở nước ta hiện nay, việc tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề cơ bản về kinh tế thị trường trở nên cấp bách đôi với các nhà quản lý kinh tê và các nhà quản trị doanh nghiệp. Nhằm đáp ứng nhu cầu trang bị kiến thức cơ bản về kinh tế học cho sinh viên chuyên ngành kinh tế của các trường đại học kỹ thuật, theo chương trình khung của Bộ Giáo dục - Đào tạo, chúng tôi biên soạn cuốn giáo trình Kinh tế học đại cưotig dựa trên các giáo trình Kinh tế học đại cương hiện đang lưu hành kết họp tham khảo kinh nghiệm nước ngoài một cách có chọn lọc. Đối tượng mà chúng tôi hướng tới là sinh viên tất cả các hệ đào tạo chuyên ngành kinh tế của các trường đại học, cao đẳng thuộc khối Kỳ thuật - Công nghệ. Giáo trình này còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giảng viên, cho các nhà quản lý kinh tế và các nhà quản trị doanh nghiệp. Giáo trình này sẽ giúp cho người học giảm bớt thời gian ghi chép tại lóp để tập trung cho việc nghe giảng và nghiên cứu. Giáo trình gồm 3 phần với 11 chương Phần 1: Nhập môn kinh tế học (chương 1, 2) Phần 2: Kinh tế học vi mô (chương 3, 4, 5 và 6) Phần 3: Kinh tế học vĩ mô (chương 7, 8, 9, 10 và 11) Trong quá trình biến soạn, mặc dù rất cố gắng, nhưng trình độ có hạn nên khó tránh khỏi những thiêu sót, chúng tôi mong nhận được sự thông cảm và những đóng góp chân thành từ bạn đọc. 3

Trang 5

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐẺ Cơ BẢN CÙA KINH TẾ HỌC 1. KINH TÉ HỌC VI MÔ VÀ KINH TÉ HỌC v ĩ MÔ Các ngành khoa học nói chung có thể được chia ra thành hai nhóm ngành khoa học là khoa học thực tiễn và khoa học hình thức (hay khoa học lý tưởng). Hình 1.1 mô tả tóm tắt sự phân chia các ngành khoa học. Hình 1.1: Phân ngành khoa học Khoa học thực tiễn cung cấp những thông tin về thực tiễn. Nhóm ngành khoa học này tiếp tục được phân làm hai nhánh: khoa học tự nhiên và khoa học văn hóa - tinh thần. Một cách đơn giản có thể hiểu rằng các khoa học văn hóa - tinh thần quan tâm đến lĩnh vực con người tạo ra. Khác với khoa học văn hóa - tinh thần, khoa học tự nhiên có đối tượng nghiên cứu là các hiện tượng tự nhiên tồn tại không có sự tác động của con người. Nhóm ngành khoa học văn hóa - tinh thần bao gồm ba lĩnh vực khoa học chủ yếu là: khoa học kinh tê, luật học và khoa học chính trị - xã hội. 7

Trang 6

Các khoa học kinh tế có thể được phân chia theo những phạm trù khác nhau. Xuất phát từ phưong thức nghiên cứu của khoa học kinh tế, có thể chia các khoa học kinh tế thành ba loại: lý thuyết kinh tế, công nghệ kinh tế và triết học kinh tế. Lý thuyết kinh tế phân tích các nguyên nhân và tác động của các quá trình kinh tế nhằm giải thích và dự đoán tính quy luật của chúng. Có thể ví dụ một mô hình giải thích lý thuyết như sau: khi tình hình Xi xảy ra sẽ làm cho giá trị Y theo quy luật Y = a + bX. Công nghệ kinh tế phân tích các chỉ tiêu và các công cụ của hoạt động kinh tế xuất phát từ những quy luật do lý thuyết kinh tế nêu ra. Công nghệ kinh tế thường quan tâm đến những vấn đề (câu hỏi) được đặt ra, ví dụ như: - Trong những điều kiện nào thì các mục tiêu kinh tế quan trọng có thể thống nhất với nhau hay không thể thống nhất với nhau? Các công cụ (phương tiện) nào có thể sử dụng để đạt những mục tiêu này? Giữa các công cụ cũng như giữa các mục tiêu tồn tại các mổi quan hệ nào? - Những biện pháp nào có thể nâng cao các quá trình quyết định kinh tế và những nhân tố nào làm giảm hiệu quả? v.v... Triết học kinh tể nghiên cứu các quá trình kinh tế dựa trên giá trị luân lý và sự quy ước của chúng bằng các nguyên tắc và tiêu chuẩn, ví dụ như các nguyên tấc và tiêu chuẩn quy định trong luật. Lý thuyết kinh tế, công nghệ kinh tế và triết học kinh tế có thể phân tích các hoạt động kinh tế từ điểm nhìn tổng thể nền kinh tế quốc dân và từ diêm nhìn từng đơn vị kinh tế riêng biệt của nền kinh tế. Một cách phân chia khác được nhiều nhà khoa học kinh tế ủng hộ là phân biệt các khoa học kinh tế theo hai bộ phận: kinh tế học (học thuyêt kinh tê quôc dân) và kinh tê xí nghiệp. Kinh tế học nghiên cứu xã hội sử dụng các nguồn lực khan hiếm như thê nào đê sản xuât ra các hàng hóa có giá trị và phân phối chúng cho các đối tượng khác nhau. Nói một các khác, kinh tế học tìm cách giải thích xã hội giải quyểt như thế nào ba vẩn đề kinh tể cơ bản: (1) sản xuất cái gì, (2) sản xuất như thế nào và (3) sản xuất cho ai. Trong kinh tế xí nghiệp, sự chú ý đến từng doanh nghiệp và các vấn đề của nó (cơ cấu và các quá trình vận hành doanh nghiệp) là trọng tâm nghiên cứu quan trọng. Các doanh nghiệp 'là những tế bào của nền kinh tế, vì thế khi nghiên cứu kinh tế xí nghiệp không thể không có các kiến thức về kinh tế quốc dân (kinh tế học), và ngược lại việc nghiên cứu kinh tế học cũng không thê thiêu các kiên thức kinh tê xí nghiệp. 8

Trang 7

Các môn khoa học hình thức, đặc biệt như toán học, thống kê học, logic học (học thuyết về những dạng thức và quy luật nhận thức), cũng như các môn khoa học văn hóa - tinh thần như: luật học, xã hội học, chính trị học, ... là những phương tiện giúp đỡ quan trọng để đạt được những kiến thức về khoa học kinh tế nói chung hay kinh tế học nói riêng. Kinh tế học, một cách phổ biến, được chia thành hai bộ phận là kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô. Cả hai bộ phận này đều piải thích các hành vi kinh tế và mối quan hệ của các chủ thể kinh tế của nền kinh tế nhưng giữa chúng cũng có những dấu hiệu để phân biệt một cách tương đối. Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô được phân biệt trước hết qua mức độ tổng hợp trong việc phân tích kinh tế. Kinh tế vi mô quan tâm đến nhũng quan hệ của từng chủ thể kinh tế (doanh nghiệp, hộ gia đình, người tiêu dùng,...) trong nền kinh tế trên phương diện mức độ tổng hợp thấp, trong khi kinh tế vĩ mô lựa chọn mức độ tổng hợp cao nhất (toàn bộ nền kinh tế) để phân tích các mối quan hệ kinh tế. Tuy nhiên, nếu để ý tới các hệ thống vấn đề mà thực tế được đề cập trong kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô thì có thể thấy rằng tiêu chuẩn mức độ tảng hợp chỉ có thể chấp nhận là dấu hiệu đầu tiêu để phân biệt kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô. Điều này có thể thấy rõ từ thực tế là: - Kinh tế vi mô không chỉ quan tâm tới nhu cầu hàng hóa của từng người tiêu dùng và quyết định cung cấp hàng hóa của từng doanh nghiệp trong nền kinh tế mà nó tổng họp nhu câu (câu cá nhân) và khả năng cung cấp (cung cá nhân) của nhiêu chủ thê kinh tế trên một thị trường nhất định thành nhu câu thị trường (câu thị trường) và cung ứng thị trường (cung thị trường) - Măt khác, kinh tế vi mô cũng không đứng trên phương diện của từng thị trường (thị trường riêng lẻ) mà nó phân tích các mối quan hệ phụ thuộc qua lại giữa các thị trường, thậm chí nó đứng trên phương diện toàn bộ nền kinh tế khi xem xét sự cân băng vi mô của một nên kinh tế. - Ngược lại, kinh tế vĩ mô không phải bao giờ cũng chỉ phân tích nền kinh tế ở mức độ tổng họp cao nhât mà còn phân tích ở mức độ tổng họp thấp hơn. Vì thế, ngoài mức độ tổng hợp khi phân biệt kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô cần phải để ý tới các hệ thống vấn đề trung tâm của nền kinh tế mà kinh tế học quan tâm vì tùy theo cách đặt vấn đề khác nhau mà những vấn đề cần giải quyết được đặt ra thuộc phạm vi nghiên cứu của kinh tế vi mô hay kinh tê vĩ mô. 9

Trang 8

Thuộc hệ thống các vấn đề của nền kinh tế có thể kể tới là: Vấn đề qúy mô sản xuất hàng hóa có tính chất toàn bộ nền kinh tế. - Vấn đề cơ cấu sản xuất hàng hóa có tính chất toàn bộ nền kinh tế. Vấn đề phân phối hàng hóa cho người tiêu dùng của một nền kinh tế. Vấn đề quy mô, khả năng tăng trưởng của sản xuất hàng hóa liên quan tới mức độ sử dụng các yếu tố sản xuất, sự ôn định và khả năng tăng trưởng của nền kinh tế. vấn đề quy mô sản xuất hàng hóa cũng liên quan đến vấn đề ổn định giá trị tiền tệ. Tất cả các vấn đề vừa nêu thuộc phạm vi nghiên cứu của kinh tế vĩ mô. Có thể nói, phân tích kinh tế vĩ mô là sự phân tích quy mô (phân tích trình độ). Vấn đề cơ cấu sản xuất hàng hóa liên quan tới vấn đề phù họp của cơ cấu các nhân tố sản xuất (đầu vào) và cung ứng với sự thay đổi của cơ cấu nhu cầu (đầu ra), vấn đề này trở thành đối tượng của kinh tế vi mô, có thể nói phân tích kinh tế vi mô là sự phân tích cơ cấu. Vấn đề phân phối hàng hóa cho người tiêu dùng của một nền kinh tế, một mặt, liên quan tới các hàng hóa có thòi gian sống dài (tài sản); mặt khác, liên quan tới những hàng hóa có thời gian sống ngắn (hàng tiêu dùng) mà người tiêu dùng có được nó nhờ những thu nhập thường xuyên nhận được từ các doanh nghiệp do họ cung cấp các yếu tố sản xuất cho chúng. Như vậy, phân phối hàng hóa có hai vẩn đề phải giải quyết là phân phối tài sản và phân phối thu nhập, vì thu nhập của người tiêu dùng đạt được từ sự cung ứng cho doanh nghiệp các nhân tố sản xuất của họ (sức lao động, đất đai, tiền vốn...) nên việc phân tích (nghiên cứu) vấn đề phân phối thu nhập trước hết phải quan tâm tới sự cung ứng, nhu cầu và sự hình thành giá cả trên thị trường yếu tố sản xuất. Phân tích những mối quan hệ này được xem là sự phân tích phân phối có tính chất vi mô. Phân tích phân phối có tính chất vĩ mô được nói tới khi đặt vấn đề nghiên cứu phân phối sản phẩm và phân phối thu nhập theo các nhóm người tiêu dùng với mức tổng hợp cao (ví dụ: những người hưởng lương) trong toàn bộ nền kinh tê. Như vậy vân đê phân phôi hàng hóa cho người tiêu dùng của một nền kinh tế, tùy theo cách đặt vấn đề khác nhau, có thể là đối tượng của kinh tế vi mô hay kinh tế vĩ mô. Tóm lại: Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô là hai bộ phận cấu thành quan trọng của kinh tế học, nghiên cứu các mối quan hệ kinh tế của nền kinh tế với những mức tổng hợp khác nhau, tùy theo cách đặt vấn đề. Kinh tế vi mô hướng vào việc nghiên cứu chi tiết một khía cạnh của hành vi kinh tế, nó nhấn mạnh đến sự thông hiểu chi tiết các thị trường cụ thể, nghiên cứu chi tiết các quyết định của các chủ thể kinh tế 10

Trang 9

về các hàng hóa cụ thể. Kinh tế vĩ mô quan tâm đến những tổng thể lớn và nó nhân mạnh đên sự tương tác trong nên kinh tê nói chung. Ví dụ: Các nhà kinh tế học vi mô, khi nghiên cứu về tổng sức mua và tông sản lượng của một loại hàng hóa nào đó (chăng hạn xe đạp), thường phân loại hàng tiêu dùng thành các loại như: xe đạp, ôtô... sau đó họ nghiên cứu các quyết định của các doanh nghiệp về sản xuất xe đạp, cuôi cùng họ tập họp tât cả các quyêt định lượng xe đạp. Khác với các nhà kinh tê học vi mô, các nhà kinh tê học vĩ mô ít quan tâm đên những vân đê cụ thê trên mà quan tâm nhiều hơn đến vấn đề tương tác giữa quyết định mua hàng nói chung của các hộ gia đình và quyết định mua sam tài sản (máy móc thiết bị sản xuất, nhà xưởng...) của các doanh nghiệp. 2. KINH TẾ HỌC CHUẨN TÁC VÀ KINH TÉ HỌC THựC CHỨNG Kinh tế học chuẩn tắc và kinh tế học thực chứng là hai hướng tiếp cận khác nhau xuât phát từ hai mục đích (quan điểm) khác nhau của quá trình nghiên cứu kinh tế học. Kinh tể học thực chứng xuất phát từ mục tiêu giải thích một cách khách quan (không phụ thuộc vào các tiêu chuẩn cá nhân của người đánh giá) xã hội quyết định như thế nào về các vấn đề sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai, nghĩa là giải thích một cách khoa học về hoạt động của nền kinh tế nên luôn luôn đặt ra những vấn đề hay những giả thiết để suy luận các mối quan hệ nhân quả. Ví dụ: Vì sao lại có hiện tượnẸ này? Nếu hiện tượng này thay đôi thì sẽ gây ra hậu quả gì cho nên kinh tê? ... Sử dụng phương pháp tư duy của kinh tế học thực chứng có thể giải thích hoặc chứng minh được các hành vi lựa chọn (hành vi kinh tế) này hay hành vi lựa chọn khác của xã hội. Chăng hạn, sử dụng kinh tế học thực chứng có thể lý giải một cách rõ ràng rằng nếu xã hội quyết định dành phần nguồn lực hiện có của xã hội cho mục đích này thì chỉ có thể dành cho các mục đích khác phần nguồn lực còn lại. Kinh tế học chuẩn tắc nhằm vào mục tiêu đưa ra các chỉ dẫn hoặc các khuyến nghị dựa theo các tiêu chuẩn cá nhân, những đánh giá chủ quan của người phát biểu. Ví dụ một khuyến nghị mang tính chuẩn tắc: “Vì mức sống của nông dân nói chung quá thấp nên chính phủ cần trợ cấp cho nông dân”. Nói chung, những khuyến nghị mang tính “chuẩn tắc” như thế thường không thể chứng minh được rõ ràng sự đúng sai bằng những luận cứ khoa học khách quan hay bằng những phân tích kinh tế. Phần đông các nhà kinh tế thừa nhận nhiều giả thiết của kinh tế học thực chứng, đồng thời họ đều có các quan điểm chuẩn tắc, và vì thế họ 11

Trang 10

thường sử dụng kinh tế học thực chứng để làm sáng tỏ những ủng hộ của họ đối với các lựa chọn mang tính chuẩn tắc của xã hội. 3. S ự KHAN HIÉM CỦA NGUỒN Lực VÀ CÁC NGUYÊN TẮC KINH TÉ Để thỏa mãn nhu cầu của con người dường như ngày càng tăng lên một các vô hạn đòi hỏi xã hội luôn phải tìm mọi cách để sản xuất ra ngày càng nhiều hàng hóa và dịch vụ bằng những nguồn lực vật chất (tài nguyên, sức lao động, đất đai) và kiến thực công nghệ hữu hạn hiện có. Với sự hữu hạn của nguồn lực hiện có, xã hội không thê sản xuât mọi hàng hóa và dịch vụ một cách vô hạn để thỏa mãn mọi nhu cầu vô hạn của con người. Tình hình này buộc xã hội phải suy tính, lựa chọn và quyết định phương án sử dụng nguồn lực của nền kinh tế một cách hiệu quả nhất, nghĩa là sử dụng nguôn lực một cách tiệt kiệm nhât đê thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của mọi người trong xã hội. Nguyên nhân sâu xa của sự phải suy tính của xã hội để lựa chọn phương án sử dụng có hiệu quả nhất nguồn lực của nền kinh tế chính là sự khan hiếm nguồn lực vì nếu nguồn lực là vô hạn (nghĩa là không khan hiếm) thì mọi hàng hóa và dịch vụ đều có thể được sản xuất một cách dễ dàng để thỏa mãn mọi nhu cầu. Khi đó, có thể hình dung là tất cả các hàng hóa và dịch vụ đều có thể cho không - hàng hóa cho không - và xã hôi không cần phải giải quyết các vấn đề cái gì, thế nào và cho ai! Xã hội trong điều kiện đó sẽ không bao giờ phải đương đầu với các cơn sổc giá dầu mỏ, ... và khi đó đương nhiên chẳng cần gì tới kinh tế học. Trong thực tiễn xã hội, mâu thuẫn giữa nhu cầu vô hạn của con người và sự hữu hạn của nguồn lực để thỏa mãn mọi nhu cầu ấy không những luôn tồn tại mà ngày càng trở nên gay gắt vì nhu cầu ngày càng gia tăng và nguồn lực ngày một cạn kiệt. Sự lựa chọn câu trả lời tốt nhất của mỗi xã hội đối với ba vấn đề kinh tế cơ bản: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Do đó sẽ ngày một khó hơn, kinh tế học cũng từ đó ngày càng trở nên hữu ích hơn và buộc phải đương đầu ngày càng nhiều với những thách thức nảy sinh của xã hội ngày càng phát triển. Khái niệm nguồn lực khan hiếm nói theo ngôn từ của kinh tế học được hiểu là nguồn lực mà tại điểm giá bằng không thì lượng cầu về nó lớn hơn lượng cung sẵn có. Do nguồn lực khan hiếm mà hầu hết các hàng hóa và dịch vụ đều trở nên khan hiếm và do vậy đều có giá. Khái niệm hàng hóa kinh tế để chỉ những hàng hóa và dịch vụ khan hiếm. 12

Trang 11

Nguồn lực khan hiếm đã đòi hỏi các doanh nghiệp phải lựa chọn kinh tế đối với các quyết định sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế như mong muốn trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì nguồn lực khan hiếm có thể sử dụng cho nhiêu mục đích khác nhau. Nguồn lực khan hiếm cũng đòi hỏi người tiêu dùng phải lựa chọn kinh tê tôi ưu trong tiêu dùng hàng hóa hay dịch vụ. Có hai nguyên tắc trong việc lựa chọn kinh tế tối ưu: (1) tối đa hóa lợi ích khi sử dụng mọi nguồn lực xác định và (2) tối thiểu hóa chi phí nguồn lực đối vói những lợi ích xác định. Đối với doanh nghiệp trong lựa chọn kinh tế tối ưu, các nguyên tắc trên có thể được mô tả như sau: • Nguồn lực sử dụng xác định <=> tối đa hóa sản lượng sản xuất • Sản lượng sản xuất xác định •=> tối hiếu hóa nguồn lực sử dụng Đối với người tiêu dùng trong lựa chọn kinh tế tối ưu, các nguyên tắc trên có thể được mô tả như sau: • Nguồn lực sử dụng xác định ^ toi đa hóa lợi ích tiêu dùng • Lợi ích tiêu dùng xác định *=> tối thiểu hóa nguồn lực sử dụng 4. ĐƯỜNG CONG GIỚI HẠN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ CHI PHÍ C ơ HỘI Đưòng cong giới hạn khả năng sản xuất (PPF) là đường đồ thị biểu diễn phương án sản xuất có hiệu quả hai loại sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ nghĩa là các phương án sử dụng triệt để nguồn lực (các đầu vào và công nghệ sản xuất) cho trước để có thể đạt được mức sản lượng sản xuất tối đa. Nó cho biết các lựa chọn phương án sản xuất và tiêu dùng khác nhau có thể có đối với xã hội. Nói một cẩch khác, đường cong giới hạn khả năng sản xuất mô tả các phương án phối hợp tối đa của sản lượng sản xuất mà nền kinh tế có thể tạo ra được khi sử dụng toàn bộ nguồn lực sẵn có. Khái niệm đường cong giới hạn khả năng sản xuất cũng có giá trị đối với doanh nghiệp, nó mô tả các phương án sản xuất hai loại sản phẩm hay dịch vụ trong điều kiện sử dụng triệt để nguồn lực sản xuất hiện có của doanh nghiệp. Đường cong giới hạn khả năng sản xuất thông thường có dạng đường cong lồi (hình 1.2) 13

Trang 12

Đường cong giới hạn khả năng sản xuất chỉ ra một ý niệm kinh tế về sự đánh đối: khi nền kinh tế (hay doanh nghiệp) hoạt động có hiệu quả (phưomg án sản xuất nằm trên đường PPF) thì chỉ có thể sản xuât nhiêu hơn hàng hóa này khi chấp nhận phải giảm bớt sản lượng hàng hóa khác, nghĩa là, theo ngôn từ kinh tế, phải gánh chịu chỉ phí cơ hội (CPCH) “Chi phí cơ hội” cho mọi phương án được quyết định lựa chọn có thể được hiểu là phần thu nhập bị hi sinh từ mội cơ hội (phương án) tôt nhất đã bị bỏ qua. Ví dụ: doanh nghiệp có thể sản xuất được 3 loại hàng hóa X,Y và z. Nếu tận dụng triệt để nguồn lực sản xuất hiện có để sản xuẩn hàng hóa X thì sản lượng đạt được hàng năm là 120 tỉ đồng. Nếu toàn bộ nguồn lực sản xuất hiện có được sử dụng để sản xuất hàng hóa Y thì sản lượng đạt được hàng năm là 100 tỉ đồng. Nếu không sản xuất X và Y mà 100% nguồn lực sản xuất hiện có được sử dụng đê sản xuất hàng hóa z thì sản lượng đạt được hàng năm là 150 tỉ đông Giả sử doanh nghiệp quyết định sử dụng 100% nguồn lực hiện có để sản xuất hàng hóa X thì chi phí cơ hội của quyết định này là 150 tỉ đồng (sản lượng z =150 tỉ đồng bị hi sinh do cơ hội sản xuất hàng hóa z không được lựa chọn) Cũng tương tự như thế, nếu doanh nghiệp quyết định không sản xuất hàng hóa X mà dùng toàn bộ nguồn lực hiện có để sản xuất hàng hổa Y thì chi phí cơ hội của quyết định sản xuất hàng hóa Y cũng là 150 tỉ đồng. Nếu doanh nghiệp quyết định toàn bộ nguồn lực hiện có sẽ sử dụng để sản xuất hàng hóa z thì chi phí cơ hội của quyết định là 120 tỉ đồng (sản lượng X là 120 tỉ đồng bị hi sinh do cơ hội sản xuất hàng hóa X không được lựa chọn) Hình 1.2: Đườtig cong giới hạn khả năng sản xuất (PPF) Hỉnh 1.3: Đường cong giới hạn khả năng sản xuất của doanh nghiệp

Trang 13

Trong kinh tế học, chi phí cơ hội cho một mặt hàng có thể được đo băng sô lượng của các mặt hàng khác phải bỏ không sản xuất (hi sinh) để sản xuât thêm một đơn vị của mặt hàng đó. Có thê dựa và đường cong giới hạn khả năng sản xuât để xác định chi phí cơ hội của một mặt hàng. Ví dụ: một doanh nghiệp có khả năng sản xuất 2 loại hàng hóa dịch vụ X và Y. Giả sử đường cong giới hạn khả năng sản xuất được mô tả như ở hình 1.3. Dựa vào đường cong giới hạn khả năng sản xuất có thể xác định chi phí cơ hội của các quyết định sản xuất sản phẩm X như sau: Quyết định sản xuất sản phẩm X với số lượng CPCH của quyết định sản xuất sản phẩm X (số lượng sản phẩm Y bị hi sinh) CPCH tính cho 1 đơn vị sản phẩm X (số lượng sản phẩm Y phải hi sinh để sản xuất thêm 1 đơn vị sản phẩm X) 300 150 (800-650) 0.5 (150/300 +200 200 (650-450) 1.0 (200/200) +150 250 (450 - 200) 1.67 (250/150) +70 200 (200 - 0) 2.86 (200/70) Bằng cách tương tự, có thể dựa vào đường cong giới hạn khả năng sản xuất đế xác định chi phí cơ hội của các quyết định sản xuất sản phẩm Y. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng: những điểm nằm bên trong đường cong giới hạn khả năng sản xuất mô tả các phương án sản xuất không hiệu quả (hiệu quả sử dụng triệt đế các nguồn lực hiện có), những điểm nằm bên ngoài đường cong giới hạn khả năng sản xuất mô tả các phương án sản xuất mà nền kinh tế (hay doanh nghiệp) không có khả năng đạt tới từ nguồn lực hiện có (các phương án không khả thi). Khi nguồn lực càng lớn thì đường cong giới hạn khả năng sản xuất càng xa gốc tọa độ và ngược lại. về phương diện lý thuyêt có thê suy diên răng trong trường hợp nền kinh tế (hay doanh nghiệp) không có nguồn lực cho phép sử dụng để sản xuất thì đường cong giói hạn khả năng sản xuất suy biến thành một điếm tại gốc tọa độ. Khi bổ sung nguồn lực sản xuất (đầu vào) hoặc khi công nghệ sản xuất được cải tiến (hiện đại hơn), đường cong giới hạn khả năng sản xuất sẽ dịch chuyển sang phải và ngược lại. (hình 1.4) 15

Trang 14

PPF ban đầu Hình 1.4: Sự dịch chuyển đường cong giới hạn khả năng sản xuất 5. MÔ HÌNH NÈN KINH TÉ 5.1. Mô hình kinh tế chỉ huy (kế hoạch hóa tập trung) Có thể phân biệt ba mô hình nền kinh tể điển hình mà lịch sử xã hội loài người đă trải qua ở quốc gia này hay quốc gia khác ở những mức độ cụ thể khác nhau: (1) mô hình nền kinh tế chỉ huy (còn gọi là mô hình nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung), (2) mô hình nền kinh tế thị trường (tự do - không có sự can thiệp của chính phủ) và (3) mô hình nền kinh tế hỗn hợp. Mô hình nền kinh tế chí huy là mô hình mô tả một nền kinh tế mà trong đó việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản chủ yếu do nhà nước thực hiện theo phương thức kế hoạch hóa tập trung thống nhất. Mô hình nền kinh tế chỉ huy có những đặc trưng cơ bản là: - Không chấp nhận sự tồn tại của thị trườnệ và sự chi phối của các quy luật thị trường như cạnh tranh, quan hệ cung cầu,... trong nền kinh tế. - Việc lựa chọn phương án giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản của nền kinh tế cũng như của các cơ sở sản xuất đều do nhà nước thực hiện, nhà nước can thiệp trực tiếp và toàn diện vào các hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong xã hội. - Nhà nước quản lý tập trung, theo một kế hoạch thống nhất mọi hoạt động sản xuất và tiêu dùng. - Giữa người sản xuất và người tiêu dùng không có mối liên hệ mật thiết vì các cơ sở sản xuất thực hiện các quá trình sản xuất và giao nộp sản phẩm cho nhà nước theo các chỉ tiêu kế hoạch nhà nước, để nhà nước 16

Trang 15

thực hiện quá trình phân phối sản phẩm cho người tiêu dùng chứ không phải xuất phá từ nhu cầu của người tiếu dùng. - Người tiêu dùng không được tự do lựa chọn tiêu dùng cái mình cân mà tiêu dùng theo sự phân phôi của nhà nước. Nền kinh tế chỉ huy với những đặc trưng cơ bản nói trên có khả năng to lớn trong việc giải quyết những nhu cầu công cộng của xã hội, hạn chê sự phân bô giàu nghèo và bât công xã hội, tuy nhiên, nó cũng chứa đựng nhiều hạn chế đáng kể như: - Không thúc đẩy và kích thích sản xuất và tiêu dùng phát triển, cả người sản xuất và người tiêu dùng đều ỷ lại và trông chờ vào nhà nước. - Bộ máy quản lý nặng nề, cồng kềnh, kém hiệu quả. - Phân phối bình quân gây nên những sự trì trệ và bất công xã hội. Nen kinh tế nước ta và hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa khác, do những đặc điểm lịch sử cụ thể của mình, trước đây đã trải qua mội thời gian khá dài vận hành theo cơ chế kinh tế chỉ huy. 5.2. Mô hình nền kinh tế thị trường Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, nghĩa là nền kinh tế hàng hóa tự điều chỉnh bằng “bàn tay vô hình” hay bằng các quy luật kinh tế khách quan của thị trường (quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung - câu hàng hóa...), không có sự can thiệp của chính phủ. Trong nền kinh tế này, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản đều thông qua hoạt động của quan hệ cung cầu trên thị trường, quan hệ cạnh tranh và giá cả thị trường, trong đó giá cả thị trường có vai trò quyêt định. Quan hệ cạnh tranh và quan hệ cung cầu trên thị trường xác định giá cả và lượng cung cầu thị trường, giá cả thị trường là cơ sở để các doanh nghiệp lựa chọn và quyết định sản xuât cái gì, bao nhiêu và cho ai sao cho có thể tìm kiếm được lợi nhuận tối đa. Động cơ lợi nhuận thúc đẩy các doanh nghiệp năng đổi mới cộng nghệ sản xuất và phát triên công nghệ tô chức và quản lý sản xuât kinh doanh. Ưu điểm này của cơ chế thị trường có tác dụng tích cực trong việc phân phối và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nước, của ngành, của địa phương và của từng cơ sở kinh doanh. Tuy nhiên, do cạnh tranh vì động cơ lợi nhuận nên nhiều nhu cầu xã hội không được đáp ứng, đặc biệt là những nhu cầu về các hàng hóa 17

Trang 16

và dịch vụ chi phí sản xuất cao, giá bán thấp, không mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp. Đồng thời, nhiều vấn đề xã hội không được giải quyết một cách thỏa đáng như vấn đề ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo, bất công xã hội, những yêu cầu về an ninh, quốc phòng và các vấn đề xã hội khác. Đó là những khuyết tật của cơ chế thị trường. 5.3. Mô hình nền kinh tế hỗn họp Là nền kinh tế thị trường có sự can thiệp của nhà nước, là sự phối họp giữa kinh tế thị trường và nhà nước trong tổ chức nền kinh tế; sự phối hợp này làm cho ưu thế của hai mô hình được phát huy đồng thời hạn chế được những khuyết tật của chúng. Mô hình kinh tế hỗn họp, ngày nay đã trở thành phương thức tổ chức, phát triển kinh tế của cả thế giới. Nền kinh tế hỗn hợp đòi hỏi phải coi trọng cả vai trò của thị trường và vai trò của nhà nước trong việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa tính khách quan của thị trường và quy chế của nhà nước trong tổ chức và phát triển kinh tế. Nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH được xác định là: nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo hướng XHCN. Vì thế, kinh tế hỗn họp có khả năng bảo đảm cho sự tăng trưởng của nền kinh tế, đạt hiệu quả cao về sử dụng các nguồn lực, đồng thời quan tâm đúng mức tới những vân đê công bằng xã hội, văn minh, sự bền vững của môi trường sinh thái và an ninh quổc phòng. Hiện nay có thể nói không có một quốc gia nào vận hành nền kinh tế theo mô hình nền kinh tế thị trường tự do mà hầu hết đều tổ chức và quản lý nền kinh tế theo mô hình nền kinh tế hỗn họp phù họp với đặc điểm tình hình cụ thê của môi nước. Sự khác nhau giữa các nước chỉ ở định hướng phát triển kinh tế và mức độ can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế. 5.4. Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trưòng có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nưóc ta a. Sự cần thiết phải có sự can thiệp của chính phủ trong nền kinh tế hỗn họp Vấn đề phân bố nguồn lực của nền kinh tế một cách có hiệu quả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển vững chắc của nền kinh tế. về vấn đề này người ta thường đề cập tới chuẩn mực phân bố nguồn lực - hiệu quả Pareto trong kinh tế học phúc lợi hiện đại. Sự phân bố nguồn lực được gọi là có hiệu quả pareto khi không thể phân bố lại nguồn lực để làm cho một số người giàu lên mà không đồng thời làm cho những người khác nghèo đi. 18

Trang 17

Mục tiêu kinh tế của một nền kinh tế trên giác độ kinh tế phúc lợi là phải đạt được một cơ cấu sản lượng sản phẩm tối ưu, nghĩa là một cơ cấu sản lượng sản phàm phù họp với những yêu cầu xã hội, nhưng thị trường không phải bao giờ cũng tạo ra một cơ cấu sản phẩm phù hợp với nhũng yêu câu của xã hội do những “trục trặc của thị trường”. Sự trục trặc của thị trường xảy ra do có sự cạnh tranh không hoàn hảo, do những ưu tiên của xã hội vì mục tiêu công băng xã hội, do các ngoại ứng và do những thị trường còn thiêu khác. Do đó, cân phải có sự can thiệp của chính phủ. Trong một nền kinh tế luôn xuất hiện những ngọai ứng do hoạt động kinh tê vi mô gây ra. Khái niệm “ngoại ứng” nói ở đây được hiểu là những ảnh hưởng của các quyết định sản xuất hoặc tiêu dùng của một cá nhân đôi với người khác trong xã hội mà không thông qua giá cả thị trường. Chang hạn hoạt động sản xuất của một hãng gây ra ô nhiễm môi trường sinh thái mà không phải chịu một chi phí nào, hoặc một cá nhân trang hoàng đẹp đẽ cho nhà mình đồng thời làm đẹp cho cả xã hội nhưng không nhận được một khoản bù đăp nào của xã hội. Các ngoại ứng dẫn đến sự chênh lệch giữa chi phí hoặc lợi ích của cá nhân và xã hội. Những ảnh hưởng của các ngoại ứng tự bản thân nền kinh tế thị trường (tự do) không giải quyết được, đòi hỏi phải có sự can thiệp của chính phủ. Hàng hóa và dịch vụ công cộng là những hàng hóa và dịch vụ không thể tiêu dùng cho riêng ai và không có tính cạnh tranh như các hàng hóa và dịch vụ cá nhân. Do vậy, thị trường tự do thường có xu hướng sản xuất không đủ hàng hóa công cộng và sản xuất thừa hàng hóa cá nhân. Do đó, cần có sự can thiệp của chính phủ. Cơ chế thị trường dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo. Trong xã hội còn có những người già, tàn tật, thất nghiệp... cần có sự can thiệp của chính phủ để đảm bảo công bằng xã hội. Độc quyền trong nền kinh tế thị trường có sức mạnh rất lớn. Nhà độc quyền có khả năng quy định số lượng sản phẩm được sản xuất, ấn định mức giá sản phẩm cao nhằm đạt được lợi nhuận độc quyền tối đa. Do tính bảo thủ rất lớn của nhà độc quyên nên nhà độc quyên thường ít đổi mới công nghệ sản xuất dẫn tới lãng phí nguồn tài nguyên và cản trở nền kinh tế đạt mức sản lượng tối ưu. Sự can thiệp của chính phủ bằng những biện pháp điều tiết độc quyền nhằm hạn chế sức mạnh của thị trường độc quyền. Mức độ rủi ro của các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường rất lớn dẫn tới sự hỗn loạn về giá cả, tình trạng lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế theo chu kỳ, do đó, đòi hỏi sự can thiệp của chính phủ để ổn định giá cả, phát triển kinh tế. 19

Trang 18

b. Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế hỗn họp Trong nền kinh tế hỗn họp, chính phủ có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc điều tiết nền kinh tế nhằm khắc phục những khuyêt tật vôn có của cơ chế thị trường tự do. Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế trước hết được thể hiện qua ba chức năng kinh tế chủ yếu: - Chức năng hiệu quả: Chính phủ xây dựng hệ thống luật pháp và các luật lệ, chính sách điều tiết nền kinh tế nhàm tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi và an toàn cho sự phát triển có hiệu quả của các hoạt động kinh tế xã hội. - Chức năng công bằng: Bằng chính sách thuế khóa và chi tiêu của chính phủ, chính phủ có thể điều tiết vấn đề phân phối sản phẩm (sản xuất cho ai) trong xã hội, đảm bảo sự công bằng xã hội. - Chức nũng ổn định: Bằng các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, chính phủ tác động vào sản lượng, việc làm và lạm phát của nền kinh tế nằm duy trì sự ổn định kinh tế. Vai trò quan trọng của chính phủ còn được thể hiện rõ qua việc tổ chức và sử dụng hệ thốnp kinh tế nhà nước để điều tiết nền kinh tế: kiểm soát một số ngành kinh tế thông qua sở hữu nhà nước. Hệ thống kinh tế nhà nước trong nền kinh tế hỗn hợp có tác dụng quan trọng trong việc khăc phục những khuyết tật của thị trường tự do, góp phần giải quyết việc làm và tăng thu cho ngân sách nhà nước.... Chính phủ, bằng hệ thống doanh nghiệp nhà nước có thể đảm nhiệm sản xuât các mặt hàng và dịch vụ công cộng như quôc phòng, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giáo dục đào tạo, y tế, bảo hiểm,...và một số hàng hóa dịch vụ cá nhân khác, đặc biệt là hàng hóa và dịch vụ mà xã hội cần nhưng các doanh nghiệp tư nhân không muốn đầu tư sản xuất do không có hoặc ít khả năng thu lợi nhuận cao. c. Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trường ở nưóc ta hiện nay Từ cuối những năm 50 của thế kỷ này, Đảng và Nhà nước ta đã đổi mới tư duy cho phù họp với diễn biến của tình hình chính trị và kinh tế trong nước cũng như trên thế giới, đã chủ trương đường lối xóa bỏ quan liêu bao cấp, hành chính mệnh lệnh của kinh tế chỉ huy trước đây, tổ chức nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế mới: nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực chất của mô hình kinh tế này là 20

Trang 19

mô hình kinh tế hỗn hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Do đặc điểm riêng của nước ta, ngoài việc thực hiện các chức năng kinh tế để điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội, Chính phủ đặt biệt quan tâm đến việc đổi mói hệ thống doanh nghiệp nhà nước để hệ thống kinh tế nhà nước thực sự trở thành một công cụ đắc lực để định hướng nền kinh tế, hướng đến kinh tế phát triển vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng yăn minh. - Đổi mới cơ cấu doanh nghiệp nhà nước: tập trung vào các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và dịch vụ công cộng, các doanh nghiệp trọng yếu trong các ngành và lĩnh vực then chốt, các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ mà xã hội có nhu cầu nhưng các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư sản xuất. - Đổi mới quan hệ sở hữu: Xác định rõ người đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, tách biệt rõ ràng quyền sở hữu và quyền quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, đa dạng hóa các hình thức sở hữu doanh nghiệp nhà nước. - Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước: Doanh nghiệp nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật và bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trước pháp luật, chống độc quyền, phát triển cạnh tranh, xóa bỏ sự can thiệp của các cơ quan quản lý hành chính vào hoạt động sản xuât kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. 21

Trang 20

Chương 2 MÔ HÌNH KINH TÉ 1. BIỂN SỐ KINH TÉ Biến số kinh tế (hay còn gọi là số liệu kinh tế) là những con số phản ánh thực tê các kêt quả kinh tê, các hiện tượng kinh tê hay các quá trình kinh tế diễn ra trong nền kinh tế quốc dân. Ví dụ như giá cả hàng hóa hay dịch vụ nào đó tại những thòi diêm khác nhau, chi phí lao động tính trên một đồng giá trị sản phẩm, số người thất nghiệp theo các lứa tuôi khác nhau trong một thòi kỳ nào đ ó ,... Biến số kinh tế vì thế mà trở thành một trong những công cụ phân tích kinh tế quan trọng, nó giúp các nhà kinh tế phát hiện các vấn đề kinh tế phát sinh trong nền kinh tế để từ đó nghiên cứu tìm hiểu nhằm giải thích, đánh giá chúng trên cơ sở những lập luận lý thuyết các mối quan hệ logic. Biến số kinh tế giúp ích cho các nhà kinh tế trong việc kiểm nghiệm những lập luận lý thuyết hay những mô hình mang tính lý thuyết được xây dựng phù hợp với thực tế tương ứng ở mức độ nào. Các nhà kinh tế thường sử dụng các biến số kinh tế được tổ chức, sắp xếp với các dạng dãy số thời gian, số liệu chéo và chỉ số: - Dãy số thời gian: Chuỗi các giá trị đo của một biến số kinh tế ở các thời điểm khác nhau. Dãy số thời gian cho biết biến số kinh tế đang xem xét biến động theo xu hướng nào theo thời gian. Dãy số thời gian thông thường được biếu diễn dưới các dạng: bảng và đồ thị. Các giá trị đo biến số kinh tế trong dãy số thời gian có thể là số tuyệt đối, số tương đối hay số bình quân và tùy từng trường hợp mà có thể sử dụng dãy số thời gian biểu thị dưới dạng này hay dạng khác một cách phù hợp. - Số liệu chéo: giá trị đo của một biến số kinh tế ở một thời điểm theo các tiêu thức phân tổ thống kê khác nhau, chẳng hạn số lượng người thất nghiệp phân theo lứa tuối, theo nghề nghiệp, theo giới tính hay theo khu vực địa lý ,... - Chỉ số: sổ tương đối so sánh giữa giá trị đo của một biến số kinh tế với một giá trị gốc nào đó, chẳng hạn giá vàng năm 1997 so với giá vàng năm 1990 tăng gấp 2,5 lần thì có chỉ số giá vàng là 2,5 hay 250% Biển sổ kinh tế có đon vị đo bằng tiền sử dụng trong phân tích kinh tế thường được phân thành hai loại: biến số danh nghĩa và biến số thực tế. 23

Die ersten 20 Seiten werden angezeigt. Laden Sie das Dokument herunter, um alles zu sehen.

Kommentare (0)

Anmelden um an der Diskussion teilzunehmen

Noch keine Kommentare. Seien Sie der Erste!