Seite 1
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Lời mở đầu Trải qua 15 năm đổi mới, đã xuất hiện nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, tuy làm ăn thăng trầm có khác nhau nhƣng phần lớn doanh nghiệp đã rút ra đƣợc nhiều bài học quý giá trong sản xuất kinh doanh, thích nghi với kinh tế thị trƣờng. Nếu nhƣ trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, các xí nghiệp quốc doanh đơn thuần sản xuất và giao nộp sản phẩm theo kế hoạch ấn định từ trên xuống mà không cần quan tâm đến chất lƣợng, giá thành và lợi nhuận thì ngày nay đối mặt với kinh tế thị trƣờng, khi mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải tính toán hiệu quả mà là hiệu quả thật sự chứ không phải “lãi giả, lỗ thật” nhƣ trƣớc đây. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải đặt trên cơ sở thị trƣờng, năng suất, chất lƣợng, hiệu quả đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội cũng nhƣ của mỗi doanh nghiệp. Cơ chế thị trƣờng đòi hỏi vừa nâng cao năng suất, vừa tạo điều kiện cho việc nâng cao năng suất vì lợi ích sống còn của doanh nghiệp và sự phát triển kinh tế xã hội của cả nƣớc. Doanh nghiệp dựa trên chiến lƣợc chung của cả nƣớc để xây dựng chiến lƣợc riêng của mình nói đúng hơn là dựa trên tín hiệu của thị trƣờng mà xây dựng chiến lƣợc theo nguyên tắc: phải bán những thứ mà thị trƣờng cần chứ không phải bán những gì mình có. Trong quá trình kinh doanh, cạnh tranh và khát vọng lợi nhuận đã thực sự trở thành động lực thôi thúc các doanh nghiệp tăng cƣờng đầu tƣ, đổi mới thiết bị công nghệ, đầu tƣ vào những ngành nghề mới… với mục đích cuối cùng là đạt đƣợc chỉ tiêu lợi nhuận ngày càng lớn. Hiện nay, có rất nhiều ngƣời còn chƣa hiểu rõ về lợi nhuận và hiệu quả kinh tế, họ thƣờng nhầm lẫn giữa hai khái niệm này. Vậy lợi nhuận là gì và có vai trò nhƣ thế nào đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp? Với mục đích tìm hiểu về lợi nhuận và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp, em đã đến thực tập tại HUDC – 1. Sau một thời gian học hỏi, nghiên cứu em đã chọn đề tài: “Lợi nhuận và giải pháp gia tăng lợi nhuận tại Công ty Xây lắp – Phát triển nhà số 1”. Chuyên đề tốt nghiệp của em gồm ba chƣơng: www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1
Seite 2
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Chƣơng I: Lý luận chung về lợi nhuận và giải pháp gia tăng lợi nhuận tại các doanh nghiệp Chƣơng II: Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Xây lắp – Phát triển nhà số 1 (HUDC-1) Chƣơng III: Giải pháp, kiến nghị nhằm gia tăng lợi nhuận tại HUDC– 1 Vì điều kiện thời gian có hạn và kiến thức thực tế chƣa nhiều nên chuyên đề tốt nghiệp của em còn có những khuyết điểm. Em rất mong nhận đƣợc ý kiến đóng góp quý báu của cô giáo hƣớng dẫn ThS Phạm Hồng Vân cùng tất cả mọi ngƣời, những ai quan tâm đến vấn đề này. Em xin chân thành cảm ơn. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2
Seite 3
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN VÀ CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 1.1_ Lý luận chung về lợi nhuận 1.1.1_ Khái niệm về lợi nhuận: Mục tiêu truyền thống và quan trọng của một chủ công ty theo lý thuyết là đạt tối đa lợi nhuận và giả thuyết này rất vững chắc. Nó vẫn tạo nên cơ sở của rất nhiều lý thuyết của kinh tế vi mô.Về lịch sử mà nói những nhà kinh tế trong các phân tích của họ về công ty đều lấy lợi nhuận tối đa làm mục đích cuối cùng, tuy nhiên có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận: Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển trƣớc Marx “cái phần trội lên nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận” Karl Marx cho rằng: “giá trị thặng dƣ hay cái phần trội lên trong toàn bộ giá trị của hàng hoá trong đó lao động thặng dƣ chính là lao động không đƣợc trả công của công nhân đã đƣợc vật hoá thì tôi gọi là lợi nhuận”. Nhà kinh tế học hiện đại P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus thì định nghĩa rằng: “Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng số đã chi” hoặc cụ thể hơn là “ lợi nhuận đƣợc định nghĩa nhƣ là khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập của một công ty và tổng chi phí”. Từ các quan điểm trên chúng ta thấy rằng nhờ có lý luận vô giá về giá trị hàng hoá sức lao động, Marx là ngƣời đầu tiên đã phân tích nguồn gốc lợi nhuận một cách khoa học, sâu sắc và có ý nghĩa cả về kinh tế, chính trị. Theo ông, lợi nhuận là hình thái chuyển hoá của giá trị thặng dƣ, lợi nhuận và giá trị thặng dƣ có sự gống nhau về lƣợng và khác nhau về chất. Về lƣợng, nếu giá cả hàng hoá bằng giá trị của nó thì lƣợng lợi nhuận bằng lƣợng giá trị thặng dƣ, nếu giá cả hàng hoá không nhất trí với giá trị của nó thì mỗi tƣ bản cá biệt có thể thu đƣợc lƣợng lợi nhuận lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá trị thặng dƣ, nhƣng trong toàn xã hội thì tổng số lợi nhuận luôn bằng tổng số giá trị thặng dƣ. Về chất, giá trị thặng dƣ là nội dung bên trong đƣợc tạo ra trong lĩnh vực sản xuất, là khoản dôi ra ngoài giá trị tƣ bản khả biến và do sức lao www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3
Seite 4
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang động đƣợc mua từ tƣ bản khả biến tạo ra. Còn lợi nhuận là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị thặng dƣ thông qua trao đổi, phạm trù lợi nhuận đã xuyên tạc, che đậy đƣợc nguồn gốc quan hệ bóc lột tƣ bản chủ nghĩa. Kế thừa đƣợc những gì tinh tế nhất của các nhà kinh tế học tƣ sản cổ điển, kết hợp với quá trình nghiên cứu sâu sắc nền sản xuất tƣ bản chủ nghĩa, Karl Marx đã chỉ rõ đƣợc nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và quan điểm về lợi nhuận của ông là hoàn toàn đúng đắn, do đó ngày nay khi nghiên cứu về lợi nhuận chúng ta đều nghiên cứu dựa trên quan điểm của Karl Marx. ở nƣớc ta theo Điều 3 Luật Doanh nghiệp ghi nhận: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh doanh có tên riêng, tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.” Mà kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ từ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi. Điều đó chứng tỏ rằng lợi nhuận đã đƣợc pháp luật thừa nhận nhƣ là mục tiêu chủ yếu và là động cơ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy lợi nhuận là gì? Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, là chỉ tiêu chất lƣợng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp. Từ góc độ của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có thể thấy rằng: Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập (income) và chi phí (expenses) mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt đƣợc thu nhập từ các hoạt động của doanh nghiệp đƣa lại. 1.1.2_ Nội dung của lợi nhuận Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trƣờng, để tồn tại và phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải có hiệu quả. Tuy nhiên, do hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú, hiệu quả kinh doanh có thể đạt đƣợc từ nhiều hoạt động khác nhau. Bởi vậy lợi nhuận của doanh nghiệp cũng bao gồm nhiều loại, trong đó chủ yếu là: www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 4
Seite 5
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh, là khoản chênh lệch giữa doanh thu tiêu thụ sản phẩm và chi phí đã bỏ ra của khối lƣợng sản phẩm hàng hoá dịch vụ, lao vụ của các hoạt động sản xuất kinh doanh chính và phụ của doanh nghiệp. Lợi nhuận thu đƣợc từ các hoạt động tài chính mang lại, đó là khoản chênh lệch giữa các khoản thu và chi có tính chất nghiệp vụ tài chính trong quá trình doanh nghiệp thực hiện việc kinh doanh. Các hoạt động nghiệp vụ tài chính gồm : hoạt động cho thuê tài chính, hoạt động mua bán chứng khoán, mua bán ngoại tệ, lãi tiền gửi ngân hàng thuộc vốn kinh doanh ccủa doanh nghiệp, lãi cho vay vốn, lợi tức cổ phần và hoàn nhập số dƣ khoản dự phòng giảm giá đầu tƣ chứng khoán và lợi nhuận thu đƣợc từ việc phân chia kết quả hoạt động liên doanh, liên kết của doanh nghiệp với đơn vị khác. Lợi nhuận thu đƣợc từ các hoạt động khác (hoạt động bất thƣờng) là khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí của các hoạt động khác ngoài các hoạt động nêu trên. Nhƣ vậy, lợi nhuận thu đƣợc từ các hoạt động khác bao gồm: khoản phải trả nhƣng không trả đƣợc do phía chủ nợ, khoản nợ khó đòi đã duyệt bỏ nay thu hồi đƣợc, lợi nhuận từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản. Khoản thu vật tƣ tài sản thừa sau khi đã bù trừ hao hụt, mất mát, khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí của hoạt động thanh lý, nhƣợng bán tài sản cố định. Lợi nhuận các năm trƣớc phát hiện năm nay, hoàn nhập số dƣ các khoản dự phòng, giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, tiền trích bảo hành sản phẩm còn thừa sau khi hết hạn bảo hành. 1.1.3_ Phương pháp xác định lợi nhuận Lợi nhuận đƣợc tính toán bởi việc sắp xếp của bất kỳ doanh thu nào đƣợc doanh nghiệp tạo ra (không kể tới có phải khách hàng hay không đã trả tiền cho doanh thu này) và trừ đi tổng số tiền chi tiêu của doanh nghiệp. Một trong số chi tiêu này là sự khấu hao, nó là phần tổn thất trong giá trị của tài sản cố định nhƣ: xe hơi, máy tính…gây ra do các tài sản này đƣợc sử dụng vào việc sản xuất kinh doanh. Theo chế độ hiện hành ở nƣớc ta có 3 cách chủ yếu xác định lợi nhuận sau: www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 5
Seite 6
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang 1.1.3.1_ Phương pháp trực tiếp Theo phƣơng pháp này lợi nhuận của doanh nghiệp đƣợc xác định trực tiếp từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động khác. a) Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là bộ phận lợi nhuận chủ yếu mà doanh nghiệp thu đƣợc từ các hoạt động sản xuất, cung ứng sản xuất dịch vụ trong kỳ đƣợc xác định theo công thức: Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh = Doanh thu thuần - Giá vốn hàng bán - Chi phí bán hàng - Chi phí quản lý doanh nghiệp trong đó: Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh là số lợi nhuận trƣớc thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) Doanh thu thuần = Doanh thu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá dịch vụ trong kỳ - Các khoản giảm trừ doanh thu Các khoản giảm trừ doanh thu gồm: Chiết khấu hàng bán: là số tiền ngƣời bán giảm trừ cho ngƣời mua đối với số tiền phải trả cho ngƣời mua thanh toán tiền mua sản phẩm, hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp trƣớc thời hạn thanh toán và đã đƣợc ghi trên hoá đơn bán hàng hoặc hợp đồng kinh tế. Giảm giá hàng bán: là số tiền ngƣời bán giảm trừ cho ngƣời mua ( khách hàng) trên giá bán đã thoả thuận do hàng kém phẩm chất, không đúng quy cách, thời hạn thanh toán đã đƣợc ghi trên hợp đồng kinh tế hoặc giảm giá cho khách hàng khi họ mua một khối lƣợng hàng hoá lớn. Giá trị hàng bán bị trả lại: là giá trị tính theo giá thanh toán của số sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do vi phạm các hợp đồng kinh tế đã ký kết. Thuế tiêu thụ đặc biệt: là loại thuế gián thu tính trên một số loại hàng hoá, dịch vụ đặc biệt mà nhà nƣớc không khuyến khích tiêu dùng. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 6
Seite 7
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Thuế xuất nhập khẩu: là loại thuế gián thu tính trên sản phẩm hàng hoá của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nƣớc xuất khẩu qua biên giới Việt Nam. Giá vốn hàng bán (GVHB) phản ánh trị giá gốc sản phẩm hàng hoá, dịch vụ (bao gồm cả một số khoản thuế theo quy định nhƣ thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng) đã đƣợc xác định là tiêu thụ. Khi xác định đƣợc doanh thu thì đồng thời giá trị sản phẩm hàng hoá xuất khẩu cũng đƣợc phản ánh vào giá vốn để xác định kết quả. Do vậy việc xác định đúng giá vốn hàng bán có ý nghĩa rất quan trọng. Đối với doanh nghiệp sản xuất Giá vốn hàng bán = Giá thành sản phẩm của khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ = Giá thành sản xuất của khối lượng sản phẩm tồn kho đầu kỳ + Giá thành sản xuất của khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ – Giá thành sản xuất của khối lượng sản phẩm tồn kho cuối kỳ Đối với doanh nghiệp thƣơng nghiệp Giá vốn hàng bán = Trị giá mua vào của hàng hoá bán ra = Trị giá hàng hoá tồn kho đầu kỳ + Trị giá hàng hoá mua vào trong kỳ – Trị giá hàng hoá tồn kho cuối kỳ Chi phí bán hàng là một bộ phận của chi phí lƣu thông phát sinh dƣới hình thái tiền tệ để thực hiện các nghiệp vụ bán hàng hóa kinh doanh trong kỳ báo cáo. Chi phí bán hàng đƣợc bù đắp bằng khối lƣợng doanh thu thuần đƣợc thực hiện, xét về nội dung kinh tế của các khoản mục chi phí bán hàng ta có: chi phí nhân viên bán hàng, chi phí vật liệu bao bì, chi phí khấu hao tài sản cố định của các khâu bán hàng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác… Chi phí quản lý doanh nghiệp (QLDN), là một loại chi phí thời kỳ đƣợc tính đến khi hạch toán lợi tức thuần tuý của kỳ báo cáo, chi phí QLDN là những khoản chi phí có liên quan đến việc tổ chức quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Nội dung chi phí quản lý cũng bao gồm các yếu tố chi phí nhƣ chi phí bán hàng, tuy vậy công dụng chi phí của các yếu tố đó có sự khác biệt. Chi phí quản lý doanh nghiệp phản ánh www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 7
Seite 8
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang các khoản chi chung cho quản lý văn phòng và các khoản chi kinh doanh không gắn đƣợc với các địa chỉ cụ thể trong cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. b) Lợi nhuận từ hoạt động tài chính Hoạt động tài chính là những hoạt động có liên quan tới việc huy động, quản lý và sử dụng vốn trong kinh doanh Lợi nhuận từ hoạt động tài chính đƣợc xác định theo công thức: Lợi nhuận hoạt động tài chính = Thu nhập hoạt động tài chính – Thuế gián thu (nếu có) – Chi phí hoạt động tài chính trong đó: Thu nhập tài chính gồm: lãi tiền gửi ngân hàng, bán trả góp, lãi kinh doanh chứng khoán, lãi góp vốn liên doanh, lãi đầu tƣ ngắn hạn và dài hạn khác, chiết khấu thanh toán khi mua hàng đƣợc hƣởng, thu tiền do cho thuê tài sản và bán bất động sản, chênh lệch tỷ giá, hoàn nhập khoản dự phòng. Chi phí hoạt động tài chính gồm: lỗ do kinh doanh chứng khoán và các hoạt động đầu tƣ khác, chi phí do đem góp vố liên doanh,chi phí liên quan đến việc thuê tài sản, chênh lệch tỷ giá, lập dự phòng giảm giá đầu tƣ chứng khoán... c) Lợi nhuận từ hoạt động khác Hoạt động khác (hoạt động bất thƣờng) là những hoạt động diễn ra không thƣờng xuyên mà doanh nghiệp không dự tính trƣớc đƣợc hoặc có dự tính nhƣng ít có khả năng thực hiện nhƣ các hoạt động thanh lý, nhƣợng bán tài sản cố định, xử lý nợ khó đòi… Lợi nhuận từ hoạt động khác đƣợc xác định theo công thức sau: Lợi nhuận hoạt động khác = Thu nhập hoạt động khác – Thuế gián thu (nếu có) – Chi phí hoạt động khác trong đó: Thu nhập hoạt động khác là những khoản thu về tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng, tiền thu đƣợc từ hoạt động thanh lý, nhƣợng bán tài sản cố định, thu các khoản nợ khó đòi, thu các khoản miễn thuế, giảm thuế, tiền thu về giá trị tài sản thu đƣợc do vắng chủ, hoàn nhập dự www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 8
Die ersten 8 Seiten werden angezeigt. Laden Sie das Dokument herunter, um alles zu sehen.
Kommentare (0)
Noch keine Kommentare. Seien Sie der Erste!