[Chuyên đề] Biện pháp tăng tính cạnh tranh của Hoạt động phát hành thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB)

THThiNganHang
0 Downloads
97
0

Vorschau wird generiert...

Inhalt des Dokuments

Seite 1

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Đề tài: Biện pháp tăng tính cạnh tranh của hoạt động phát hành thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. CHƢƠNG 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ THẺ I. Hai hình thức thanh toán tiền tệ Tiền tệ vừa là sản phẩm vừa là công cụ phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Trong nền kinh tế thị trƣờng, các quan hệ thanh toán chi trả lẫn nhau phải dùng tiền tệ. Vì vậy, thanh toán tiền tệ là một yêu cầu khách quan, là điều kiện cần thiết để phục vụ cho quá trình tái sản xuất xã hội. Thanh toán tiền tệ đƣợc thực hiện dƣới hai hình thức: thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt. Thanh toán tiền mặt Thanh toán dùng tiền mặt là việc chi trả trực tiếp bằng tiền mặt trong các quan hệ thanh toán thu chi. Đặc điểm của mối quan hệ thanh toán này là việc thanh toán đƣợc thực hiện trực tiếp giữa ngƣời mua- ngƣời bán, không có sự xuất hiện của bên thứ ba, do đó các ngân hàng thƣơng mại không có vai trò gì trong mối quan hệ thanh toán này. Trong thanh toán tiền mặt, sự vận động của hàng hoá gắn liền với sự vận động của tiền tệ và tiền tệ đóng vai trò làm vật môi giới trong quá trình lƣu thông. Nhƣng khi sản xuất và trao đổi phát triển đến một trình độ cao hơn thì việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt không còn giữ địa vị độc tôn, không những thế nó còn tỏ ra có nhiều điểm không thích hợp. Sự hạn chế của nó thể hiện ở chỗ giao dịch thƣờng có giá trị lớn hơn trƣớc, do đó cần phải có một khối lƣợng lớn tiền mặt. Điều đó làm cho các đơn vị kinh doanh tốn nhiều chi phí và chịu nhiều rủi ro, đặc biệt là khi không gian sản xuất đƣợc mở rộng, nhiều đơn vị kinh doanh có mối quan hệ làm ăn ở rất xa nhau, đồng thời gây ra nhiều khó khăn cho nhà nƣớc trong việc quản lý tiền tệ. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1

Seite 2

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Những bất tiện của việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán đòi hỏi phải có thêm những hình thức thanh toán thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, với sự phát triển vƣợt bậc của hệ thống ngân hàng, các dịch vụ, các công cụ thanh toán đã đƣợc ngân hàng nghiên cứu đƣa ra để khách hàng lựa chọn cho mình một hình thức thanh toán thích hợp thay cho thanh toán tiền mặt. Thanh toán không dùng tiền mặt phát sinh từ đó và càng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán không dùng tiền mặt là tổng hợp các mối quan hệ chi trả tiền tệ không có sự xuất hiện của tiền mặt. Đặc trƣng của phƣơng thức này là sự vận động của hàng hoá, dịch vụ độc lập với sự vận động của tiền tệ cả về thời gian lẫn không gian và thông thƣờng hai quá trình này không ăn khớp với nhau. Trong phƣơng thức này, tiền mặt không làm trung gian trao đổi mà chính hình thức tiền tệ kế toán (tiền ghi sổ) thực hiện chức năng này. Khác với thanh toán dùng tiền mặt chỉ là quan hệ thanh toán giữa ngƣời mua và ngƣời bán, trong thanh toán không dùng tiền mặt, ngoài chủ thể chịu trách nhiệm thanh toán và chủ thể đƣợc hƣởng thƣờng có sự tham gia của ít nhất là một ngân hàng nên ngân hàng có một vai trò to lớn, vừa là ngƣời tổ chức, vừa là ngƣời thực hiện, đồng thời là ngƣời kết thúc quá trình thanh toán. Sự tham gia của ngân hàng cùng với các phƣơng tiện hiện đại và các mối quan hệ đa dạng vào quá trình thanh toán sẽ giúp cho việc thực hiện các hoạt động thanh toán cho doanh nghiệp diễn ra nhanh chóng và an toàn. Các đơn vị kinh doanh chỉ cần mở tài khoản tại ngân hàng và ký lệnh thanh toán khi cần thiết là mọi hoạt động thanh toán coi nhƣ đã đƣợc hoàn tất. Hơn nữa, số tiền trong tài khoản của doanh nghiệp lại rất an toàn và có thể sinh lãi trong thời gian chƣa dùng đến. Nhƣ vậy, hoạt động thanh toán đã đƣợc đơn giản rất nhiều, giảm bớt khó khăn cho nền kinh tế cũng nhƣ các doanh nghiệp. Các hoạt động nhƣ vận chuyển tiền, kiểm tra tiền để thanh toán không còn nữa, lƣợng tiền trong lƣu thông và các chi phí lƣu thông cần thiết www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2

Seite 3

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang nhƣ chi phí in tiền, vận chuyển và bảo quản tiền giảm, tiền nhàn rỗi lại đƣợc tận dụng để phát triển kinh tế xã hội. Hoạt động thanh toán qua ngân hàng, cùng với sự phát triển của những ứng dụng của công nghệ thông tin trong ngân hàng, đang ngày càng phát triển. Hệ thống ngân hàng ngày càng đƣợc hoàn thiện về mọi mặt để thực hiện tốt chức năng thanh toán cũng nhƣ các chức năng khác mà nền kinh tế đã giao phó cho ngân hàng. Một số công cụ thanh toán không dùng tiền mặt Vì tính chất hoạt động thanh toán rất đa dạng, diễn ra trong các phạm vi khác nhau, phục vụ cho các đối tƣợng khác nhau, do vậy các phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt cũng có nhiều loại khác nhau. Sau đây chỉ đề cập đến một số phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt có sự xuất hiện của ngân hàng làm trung gian thanh toán: Sec: là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện, do khách hàng của ngân hàng ra lệnh cho ngân hàng trích ra một số tiền nhất định trên tài khoản của mình mở tại ngân hàng, để trả cho ngƣời cầm séc hoặc cho ngƣời (tổ chức hay cá nhân) đƣợc chỉ định trên tờ sec. Việc sử dụng séc cho phép việc thanh toán đƣợc thực hiện ở xa và an toàn, tiện lợi hơn tiền mặt. Uỷ nhiệm thu: là phƣơng tiện thanh toán mà tổ chức hoặc cá nhân uỷ nhiệm cho ngân hàng thu hộ tiền hàng hoá đã giao hoặc dịch vụ đã cung ứng. Việc thanh toán này yêu cầu bên bán phải hoàn toàn tin tƣởng vào bên mua. Uỷ nhiệm chi- chuyển tiền: là lệnh chi tiền của chủ tài khoản ra lệnh cho ngân hàng trích tài khoản của mình để trả cho đơn vị hoặc cá nhân đƣợc hƣởng. Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi đƣợc thực hiện với những đối tác có tín nhiệm lẫn nhau, vì vậy cùng với uỷ nhiệm thu, nó không thích hợp đối với thị trƣờng đông ngƣời mua và ngƣời bán và họ không có thông tin về nhau. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3

Seite 4

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Thƣ tín dụng: là phƣơng tiện thanh toán trong điều kiện đơn vị bán hàng đòi hỏi đơn vị mua phải có đủ tiền để chi trả ngay và phù hợp với tổng số tiền hàng hoá giao theo hợp đồng hoặc theo đơn đặt hàng đã ký. Hình thức này thƣờng đƣợc sử dụng trong thanh toán quốc tế. Thƣ tín dụng đƣợc ngân hàng bảo đảm nhƣng việc thực hiện phức tạp, tốn kém. Thẻ: là một phƣơng tiện thanh toán hiện đại do ngân hàng (hoặc công ty) phát hành cho khách hàng của mình để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt. Các công cụ khác, ngoài séc, đều yêu cầu một khoản phí khá lớn cho từng giao dịch, đặc biệt là những giao dịch khối lƣợng không lớn, vì vậy đối với những giao dịch xảy ra thƣờng xuyên thì thẻ tỏ ra có ƣu thế hơn hẳn những công cụ còn lại. I Tổng quan về thẻ 1. Sự hình thành và phát triển thẻ Thẻ đã đƣợc đƣa vào sử dụng rộng rãi trên thế giới. Trong phạm vi rộng, thẻ nói chung bao gồm tất cả các loại: thẻ séc, thẻ rút tiền mặt, thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng… Thẻ thanh toán là một trong những thành tựu của ngành công nghiệp ngân hàng. Đó là cuộc cách mạng trong lĩnh vực tài chính cá nhân và sẽ không có sự bùng nổ trong bán lẻ vào những năm 1970 và 1980 nếu không có sự ra đời của thẻ. Sự phát triển của thẻ là thành quả của sự đổi mới và khả năng marketing của các chuyên gia ngân hàng thế giới. Tuy nhiên, ngân hàng không phải là ngƣời đầu tiên phát hành thẻ. Tại Mỹ, các thẻ bách hoá, thẻ du lịch và giải trí đƣợc phát hành trƣớc khi bƣớc vào ngành công nghiệp ngân hàng. Một vài yếu tố đã thúc đẩy các ngân hàng tham gia vào lĩnh vực thẻ. Nó cho phép các ngân hàng đƣa ra đƣợc các dịch vụ mới cho các khách hàng hiện có và là một phƣơng tiện tối ƣu để hấp dẫn các khách hàng mới- các cá nhân cũng nhƣ những doanh nghiệp bán lẻ. Mặc dù không phải là một yếu tố quyết định, có lẽ nhiều ngân hàng đã tham gia vào lĩnh vực này nhằm đuổi kịp những phát triển mà sự cạnh tranh đòi www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 4

Seite 5

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang hỏi. Dĩ nhiên là các ngân hàng cũng đƣợc khuyến khích áp dụng các kế hoạch thẻ do khả năng có thể gia tăng lợi nhuận của chính ngân hàng. Thẻ xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1914 khi tổng công ty xăng dầu California (ngày nay là công ty Mobie) cấp thẻ cho nhân viên và một số khách hàng của mình. Thẻ chỉ nhằm khuyến khích bán sản phẩm của công ty chứ không kèm theo việc gia hạn tín dụng. Sau đó, các hệ thống cửa hàng bán lẻ tiếp tục phát triển hình thức tài trợ khách hàng này thông qua việc phát hành thẻ, theo hình thức tiêu trƣớc trả tiền sau, cho các khách hàng phù hợp với những tiêu chuẩn thẩm định của họ để khuyến khích tiêu dùng, tăng doanh thu. Thực sự thì hình thức này đã đem lại những hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, việc phát hành thẻ (hay các phiếu bán hàng) có nhiều hạn chế với các cửa hàng: khả năng tài trợ có hạn, chi phí quản lý cao ảnh hƣởng đến lợi nhuận, thẻ của mỗi hệ thống chỉ sử dụng đƣợc trong hệ thống đó nên tính tiện lợi của thẻ không cao, nhiều đại lý nhỏ không đủ điều kiện và khả năng cung cấp tín dụng cho các khách hàng của họ. Nhu cầu có một loại thẻ chung để có thể sử dụng thanh toán tại các điểm bán hàng trở nên rất cấp thiết và chính nó đã tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính vào cuộc. Năm 1946, dạng thẻ đầu tiên của thẻ ngân hàng là Charge-It của ngân hàng John Biggins xuất hiện tại Mỹ, cho phép các khách hàng thực hiện các giao dịch nội địa bằng các phiếu có giá trị do ngân hàng phát hành. Các đại lý nộp các phiếu giao dịch cho ngân hàng Biggins, ngân hàng sẽ thanh toán các giao dịch đó cho các đại lý và thu lại tiền từ các khách hàng. Những năm sau đó, ngày càng có nhiều tổ chức tài chính tham gia vào thị trƣờng thẻ. Thẻ Charge-It đã mở đƣờng cho sự ra đời của thẻ vào năm 1951 do ngân hàng Franklin National, New York phát hành. Tại đây, khách hàng xin cấp hạn mức tín dụng và đƣợc thẩm định khả năng thanh toán, tình hình tài chính thông qua hoạt động tín dụng trƣớc đó của họ với ngân hàng. Những khách hàng đủ tiêu chuẩn sẽ đƣợc cấp thẻ để thực hiện giao dịch tại các đại lý chấp nhận thẻ. Các cơ sở này khi nhận đƣợc giao dịch sẽ liên hệ www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 5

Seite 6

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang với ngân hàng, nếu đƣợc phép chuẩn chi họ sẽ thực hiện giao dịch và đòi tiền sau đối với ngân hàng. Các chủ thẻ phải trả toàn bộ dƣ nợ vào cuối tháng. Năm 1955, hàng loạt thẻ mới nhƣ Trip Charge, Golden Key, Gourmet Club rồi đến Carte Blanche và American Express (1958), JCB (1961) ra đời. Năm 1960, ngân hàng Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ ngân hàng của riêng mình, the Bank Americard, và đã đạt đƣợc nhiều thành công. Với những lợi ích của hệ thống thanh toán này, ngày càng có nhiều tổ chức tín dụng tham gia thanh toán. Nhiều tổ chức phát hành thẻ khác bắt đầu liên kết để cạnh tranh với Bank of America. Năm 1966, 14 ngân hàng Mỹ liên kết thành tổ chức Interbank (Interbank Card Association-ICA), một tổ chức mới có khả năng trao đổi thông tin các giao dịch thẻ tín dụng. Năm 1967, bốn ngân hàng California đổi tên từ California Bankcard Association thành Western States BankCard Association (WSBA) và mở rộng mạng lƣới thành viên với các tổ chức tài chính khác ở phía tây nƣớc Mỹ. Sản phẩm thẻ của tổ chức này là Master Charge. Tổ chức này cũng cấp phép cho Interbank sử dụng tên và thƣơng hiệu Master Charge. Vào cuối thập niên 1960, nhiều tổ chức tài chính đã trở thành thành viên của Master Charge và đủ sức cạnh tranh với Bank Americard. Tuy nhiên, để hình thức thanh toán thẻ có thể thu hút đƣợc khách hàng cần phải có một mạng lƣới thanh toán lớn, không chỉ trong phạm vi một địa phƣơng, một quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu. Đứng trƣớc đòi hỏi đó, Inter Bank (Master Charge) và Bank of American (Bank Americard) đã xây dựng một hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn trong xử lý thanh toán thẻ toàn cầu. Năm 1977, Bank Americard trở thành Visa USA và sau đó trở thành tổ chức thẻ quốc tế Visa. Năm 1979, Master Charge cũng trở thành một tổ chức thẻ quốc tế lớn khác là Master Card. 4 tổ chức thẻ quốc tế lớn nhất hiện nay là Visa, Master Card, Amex, JCB. Do thẻ ngày càng đƣợc sử dụng rộng rãi, các công ty và các ngân hàng liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực thu lợi nhuận này. Thẻ dần dần www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 6

Seite 7

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang đƣợc xem nhƣ một công cụ văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao dịch mua bán. Các loại thẻ Master Card, Visa, Amex, JCB đƣợc sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và cùng phân chia những thị trƣờng rộng lớn. Chính sự phát triển của hệ thống ngân hàng thƣơng mại và những ứng dụng của cuộc cách mạng thông tin trong lĩnh vực ngân hàng đã góp phần thúc đẩy sự ra đời của thẻ với nhiều tên gọi khác nhau mà hiện nay đang đƣợc sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Với lợi thế về vốn, chuyên môn trong nghiệp vụ thẩm định, cơ sở hạ tầng sẵn có phục vụ cho hoạt động phát hành và thanh toán thẻ, thẻ do ngân hàng phát hành thực sự đƣợc đông đảo công chúng quan tâm và ƣa thích. Trong khoảng thời gian 25 năm trở lại đây, ngành công nghiệp thẻ thanh toán, đặc biệt là thẻ ngân hàng mới thực sự đƣợc phát triển, mặc dù nó đã ra đời từ rất lâu trƣớc đó. 2. Một số nội dung liên quan đến thẻ 2.1. Khái niệm Thẻ là một tấm nhựa chứa băng từ hoặc chip điện tử để lƣu giữ các thông tin, số liệu cần thiết đã đƣợc mã hoá. Nói một cách ngắn gọn, thẻ là một phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng hoặc tổ chức tài chính phát hành cấp cho khách hàng và đƣợc sử dụng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lí, các máy rút tiền tự động hoặc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận thẻ trong phạm vi số dƣ tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng đƣợc ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ. Đối với ngân hàng, việc phát hành và thanh toán thẻ là hoạt động bao gồm các nghiệp vụ cho vay, huy động vốn (đặt cọc hoặc có tiền trong tài khoản), thanh toán trong nƣớc và ngoài nƣớc. 2.2. Mô tả thẻ về kĩ thuật Hầu hết các loại thẻ thanh toán quốc tế làm bằng nhựa cấu tạo với 3 lớp đƣợc ép với kĩ thuật cao. Thẻ có kích thƣớc: 84mm x 54mm x 0,76mm www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 7

Seite 8

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang có góc tròn gồm 2 mặt có in đầy đủ các yếu tố nhƣ: nhãn hiệu thƣơng mại của thẻ, tên và logo của nhà phát hành thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ và ngày hiệu lực… và một số yếu tố khác tuỳ theo quy định của các tổ chức thẻ quốc tế hoặc hiệp hội phát hành thẻ.  Mặt trƣớc của thẻ gồm: -Tên và biểu tƣợng của ngân hàng phát hành thẻ, của tổ chức thẻ: Mỗi loại thẻ có một biểu tƣợng riêng, mang tính đặc trƣng của tổ chức phát hành thẻ. Đây đƣợc xem nhƣ một yếu tố an ninh, chống lại sự giả mạo. -Số thẻ (đƣợc in nổi): số này dành riêng cho mỗi chủ thẻ, đƣợc dập nổi trên thẻ và đƣợc in lại trên hoá đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ. Tuỳ theo từng loại thẻ mà có chữ số, cách cấu trúc theo nhóm khác nhau. -Họ tên chủ thẻ: in chữ nổi, là tên của cá nhân nếu là thẻ cá nhân, tên của ngƣời đƣợc uỷ quyền nếu là thẻ công ty. -Ngày hiệu lực của thẻ (đƣợc in nổi): là thời hạn mà thẻ đƣợc phép lƣu hành. Tuỳ theo từng loại thẻ mà có thể ghi ngày hiệu lực cuối cùng của thẻ hoặc ngày đầu tiên và ngày cuối cùng đƣợc sử dụng thẻ. -Ký tự an ninh trên thẻ, số mật mã của đợt phát hành: mỗi loại thẻ luôn có ký hiệu an ninh kèm theo, in phía sau của ngày hiệu lực nhằm tăng tính an toàn của thẻ, đề phòng giả mạo. Ngoài ra còn có thể có các yếu tố khác nhƣ: chữ kí, hình của chủ thẻ, hình nổi không gian 3 chiều (hoặc chip đối với thẻ điện tử).  Mặt sau của thẻ gồm: -Dải băng từ chứa các thông tin nhƣ: số thẻ, ngày hết hạn, tên chủ thẻ, ngân hàng phát hành, các yếu tố kiểm tra an toàn khác. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 8

Seite 9

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang -Dải băng chữ kí của chủ thẻ: cơ sở chấp nhận thẻ đối chiếu chữ ký này với chữ ký khi thực hiện thanh toán thẻ. 2.3. Phân loại thẻ 2.3.1. Theo công nghệ sản xuất: 1. Thẻ khắc chữ nổi: Các thông tin cần thiết đƣợc khắc nổi lên bề mặt của thẻ. Tấm thẻ đầu tiên đã đƣợc sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay ngƣời ta không sử dụng thẻ loại này nữa vì kỹ thuật sản xuất quá thô sơ, dễ bị làm giả. 2. Thẻ băng từ: đƣợc sản xuất dựa trên kĩ thuật từ tính với một băng từ chứa hai rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Thẻ này đƣợc sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm nay. Tuy nhiên, do thẻ mang tính thông tin cố định, khu vực chứa thông tin hẹp không áp dụng đƣợc các kĩ thuật mã bảo đảm an toàn, thông tin trong thẻ không tự mã hoá đƣợc, ngƣời ta có thể đọc thẻ dễ dàng bằng thiết bị đọc gắn với máy vi tính nên có thể bị lợi dụng để lấy cắp tiền. 3. Thẻ điện tử có bộ vi xử lí chip (thẻ thông minh): là thế hệ mới nhất của thẻ, dựa trên kĩ thuật vi xử lí tin học. Thẻ đƣợc gắn một chip điện tử có cấu trúc giống nhƣ một máy tính hoàn hảo. Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lƣợng nhớ của chip điện tử khác nhau, có tính an toàn và bảo mật rất cao. Nhƣng do giá thành cao, hệ thống máy móc chấp nhận thẻ đắt nên việc sử dụng thẻ này còn chƣa phổ biến nhƣ thẻ từ. Việc phát hành và chấp nhận thẻ thông minh mới chỉ phổ biến ở các nƣớc phát triển dù các tổ chức thẻ vẫn đang khuyến khích các ngân hàng thành viên đầu tƣ để phát hành và chấp nhận loại thẻ này nhằm giảm tỷ lệ rủi ro do giả mạo thẻ. 2.3.2. Theo chủ thể phát hành: 1. Thẻ do ngân hàng phát hành: giúp khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 9

Die ersten 9 Seiten werden angezeigt. Laden Sie das Dokument herunter, um alles zu sehen.

Kommentare (0)

Anmelden um an der Diskussion teilzunehmen

Noch keine Kommentare. Seien Sie der Erste!