Ảnh hưởng của tỷ lệ sở hữu nước ngoài và thông tin kế toán đến giá cổ phiếu- Thị trường chứng khoán

THThiNganHang
0 Downloads
5
0

Vorschau wird generiert...

Inhalt des Dokuments

Seite 1

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ SỞ HỮU NƯỚC NGOÀI VÀ THÔNG TIN KẾ TOÁN ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU *** Thực tế trên thị trường chứng khoán cho thấy, tỷ lệ sở hữu nước ngoài và thông tin kế toán có tác động tích cực đến giá chứng khoán của các công ty cổ phần niêm yết. Qua việc sử dụng số liệu của 712 công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2014, kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng tỷ lệ sở hữu nước ngoài và thông tin kế toán có tác động tích cực đến giá chứng khoán của các công ty này. Nghiên cứu này một lần nữa khẳng định ý nghĩa đúng đắn của việc nới “room” cho nhà đầu tư ngoại mới đây của Chính phủ và Bộ Tài chính. Kinh nghiệm quốc tế Ảnh hưởng của thông tin kế toán đối với giá cổ phiếu Trong những năm qua, trên thế giới, có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm xem xét tác động của thông tin kế toán đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên các thị trường chứng khoán (TTCK). Các nghiên cứu này đều chỉ ra rằng, giá trị của thông tin kế toán đối với giá cổ phiếu rất quan trọng và ngày càng có xu hướng tác động mạnh hơn. Đặc biệt, trong bối cảnh hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế nói chung và hệ thống chuẩn mực kế toán của các quốc gia nói riêng ngày càng được cải tiến và thống nhất với nhau làm cho thông tin kế toán ngày càng minh bạch, đáng tin cậy và dễ tiếp cận hơn. Ngoài ra, thông tin kế toán cũng giúp các nhà đầu tư (NĐT) đánh giá tình hình tài chính, dự đoán dòng tiền, dòng lợi nhuận trong tương lai mà các công ty niêm yết trên TTCK đem lại chính xác hơn. Trên cơ cở đó, các NĐT đưa ra quyết định đúng đắn về việc mua hay bán cổ phiếu đang nắm giữ, vì vậy tác động trực tiếp đến cung – cầu về cổ phiếu, dẫn đến sự thay đổi trong giá của cổ phiếu trên thị trường. Những nghiên cứu chứng minh cho quan điểm này có thể kể đến như nghiên cứu của Collins, Maydew và Weiss (1997), Barth, Beaver và Landsman (1998), Keener (2011)… Ảnh hưởng của tỷ lệ sở hữu nước ngoài đối với giá cổ phiếu Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, có rất nhiều nghiên cứu xem xét sự tác động của tỷ lệ sở hữu của NĐT nước ngoài đến giá cổ phiếu như các nghiên cứu Bekaert và Harvey (2000), Kim và Singal (2000), Pavabutr và Yan (2007)… Thực tế cho thấy, lợi ích của dòng vốn đầu tư nước ngoài đối với TTCK ngày càng tăng, đặc biệt là sự cải thiện rõ rệt trong xu hướng về giá cổ phiếu của www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1

Seite 2

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang các công ty có dòng vốn nước ngoài. Nghiên cứu của Bohn và Tesar (1996), nghiên cứu của Froot, O’Connell và Seasholes (2001)… cũng đều chỉ ra tác động dương (+) của dòng vốn nước ngoài đến xu hướng giá chứng khoán. Hơn nữa, các nghiên cứu của Wang (2007), Yan (2007) với mẫu nghiên cứu là các công ty cổ phần niêm yết trên TTCK Thái Lan và Indonesia cho thấy, tỷ lệ sở hữu nước ngoài có tác động đến xu hướng của giá chứng khoán. Thêm vào đó, các nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, trong thời kỳ khủng hoảng (1997) thì chính dòng vốn đầu tư nước ngoài giúp TTCK Thái Lan và Indonesia ổn định hơn. Phương pháp và mô hình nghiên cứu tại Việt Nam Nhằm nghiên cứu những ảnh hưởng của thông tin kế toán và tỷ lệ sở hữu nước ngoài đối với giá cổ phiếu trên TTCK Việt Nam, nghiên cứu sử dụng mẫu 712 công ty cổ phần niêm yết năm 2014. Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ trang web của các công ty niêm yết, Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và các công ty chứng khoán. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp tỷ số, thống kê mô tả và phương pháp hồi quy bội. Theo đó, mô hình và các biến nghiên cứu như sau: LnP = β0 + β1*EPS/BV+ β2*FO+ β3*SIZE+ Ui Trong đó: LnP là loga tự nhiên của giá cổ phiếu trên thị trường. Giá cổ phiếu trên thị trường được tính bằng trung bình của giá giao dịch cao nhất và thấp nhất trong năm. – Thông tin kế toán: Hai thước đo phổ biến được sử dụng để xem xét tác động của thông tin kế toán đến giá cổ phiếu bao gồm thu nhập trên một cổ phiếu thường (EPS = Lợi nhuận sau thuế/số lượng cổ phiếu đang lưu hành) và giá trị sổ sách của một cổ phiếu (BV = Tổng giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu/Số lượng cổ phiếu đang lưu hành). Các thước đo này được sử dụng trong các nghiên cứu của Collins, Maydew và Weiss (1997), Hirschey và các cộng sự (2001), Graham và các cộng sự (2002)… Để giảm sai số chuẩn, tác giả sử dụng thước đo EPS/BV để đo lường thông tin kế toán. Tỷ số EPS/BV thể hiện một đồng giá trị vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập. Như vậy, về lý thuyết, tỷ số EPS/BV càng cao thì giá cổ phiếu càng cao hay cặp giả thuyết cần kiểm định là: Ho: EPS/BV không có tác động đến giá cổ phiếu H1: EPS/BV có tác động cùng chiều (+) đến giá cổ phiếu www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2

Seite 3

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Trong khi đó, tỷ lệ sở hữu nước ngoài (FO) = Số lượng cổ phiếu NĐT nước ngoài sở hữu/tổng số cổ phiếu. Các nghiên cứu trước (Bohn và Tesar (1996), Froot, O’Connell và Seasholes (2001)… đã minh chứng cho lợi ích của dòng vốn đầu tư nước ngoài đến biến động của giá chứng khoán. Do đó, cặp giả thuyết mà nghiên cứu đưa ra là: Ho: FO không có tác động đến giá cổ phiếu H1: FO có tác động cùng chiều (+) đến giá cổ phiếu – Biến kiểm soát: Quy mô công ty là một trong nhân tố quan trọng tác động đến giá của chứng khoán, vì vậy tác giả đưa biến quy mô công ty (SIZE) là biến kiểm soát. SIZE được đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản. Kết quả nghiên cứu Thống kê mô tả Qua bảng 1 cho thấy, tỷ lệ sở hữu nước ngoài trung bình là 4,7% với độ phân tán của giá trị trung bình là 9,6%. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài thấp nhất là 0% với số liệu thống kê khoảng 246/712 công ty cổ phần. Trong số này, có tới 183/246 công ty cổ phần (74,4%) có giá chứng khoán thấp hơn giá trung bình. Mặt khác, tỷlệ sở hữu nước ngoài cao nhất là 49,04% của Công ty Cổ phần Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (mã HCM). HCM có hiệu quả tài chính tương đối cao với tỷ lệ EPS-BV là 15,9% tương ứng với giá chứng khoán 32.450 đồng/cổ phiếu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giá trung bình của cổ phiếu là 15.208 đồng/cổ phiếu, trong đó giá thấp nhất 600 đồng/cổ phiếu là của Công ty Cổ phần Phát triển Điện nông thôn Trà Vinh (DTV) tương ứng với FO là 0% và tỷ số EPS-BV là 7,5%. Giá cổ phiếu cao nhất là 191.000 đồng/cổ phiếu là của Công ty cổ phần Vinacafé Biên Hòa (VCF). Tuy giá cổ phiếu và tỷ số EPS-BV (27,35%) cao nhưng VCF chưa thực sự hấp dẫn các NĐT nước ngoài (cụ thể FO=1,79%). www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3

Die ersten 3 Seiten werden angezeigt. Laden Sie das Dokument herunter, um alles zu sehen.

Kommentare (0)

Anmelden um an der Diskussion teilzunehmen

Noch keine Kommentare. Seien Sie der Erste!