Đề Đọc hiểu TSA - Khảo thí 01

LI
lienhejb
1 Downloads
6
0

Inhalt des Dokuments

Trang 1

Họ và tên: ................................................... Lớp: .................... Số báo danh: .................... Đề thi số: 1 TERM / TSA ************************ FULLTESTCK04 - TƯ DUY ĐỌC HIỂU Mã đề: SKX8RW, Thời gian làm bài: 30 phút Khi trí tuệ không còn khan hiếm [1] Trong hơn một thế kỷ qua, doanh nghiệp hiện đại được xây dựng dựa trên giả định: trí tuệ là nguồn lực khan hiếm. Muốn mở rộng năng lực phân tích, phải tuyển thêm chuyên gia. Muốn xử lý nhiều hồ sơ hơn, phải tuyển thêm nhân viên. Muốn đưa ra nhiều quyết định hơn, phải mở rộng bộ máy. Toàn bộ cấu trúc tổ chức mà chúng ta kế thừa - phòng ban, cấp quản lý, quy trình phê duyệt - đều được thiết kế để giải quyết bài toán đó. Doanh nghiệp là cỗ máy được xây dựng để quản lý sự khan hiếm trí tuệ. [2] AI làm lung lay giả định này. Không phải vì nó viết email nhanh hơn hay tạo báo cáo thông minh hơn, mà vì lần đầu tiên trong lịch sử kinh doanh hiện đại, một phần đáng kể các tác vụ trí tuệ có thể được thực hiện bởi phần mềm với chi phí rất thấp và khả năng mở rộng gần như vô hạn. Đây không đơn thuần là một công nghệ mới. Nó là sự thay đổi của kinh tế học trí tuệ - giống như cách chi phí tính toán sụp đổ trong cuộc cách mạng máy tính, hay chi phí truyền tải thông tin sụp đổ trong thời đại Internet. [...] Và khi kinh tế học thay đổi, những tổ chức được xây dựng trên nền tảng cũ không thể chỉ thích nghi ở bề mặt. Là người đã trực tiếp ngồi cùng bàn bạc với lãnh đạo hàng chục doanh nghiệp đang đối mặt với bài toán này, điều tôi nhận thấy rất rõ là nhiều tổ chức đang cố gắng đầu tư vào AI, nhưng bài toán họ thực sự phải giải không phải là AI. [3] Để hình dung, ta có thể nhìn lại bài học cuối thế kỷ XIX. Khi các nhà máy chỉ đơn giản thay động cơ hơi nước bằng động cơ điện - rồi giữ nguyên toàn bộ cách bố trí dây chuyền. Năng suất hầu như không thay đổi. Mãi đến khi họ thiết kế lại nhà máy từ đầu dựa trên đặc tính của điện năng, cuộc cách mạng năng suất mới thực sự xảy ra. Nhiều công ty trong khu vực - đặc biệt từ Đông Nam Á và Đông Bắc Á - đang triển khai AI không phải như một dự án công nghệ mà như một cuộc tái cơ cấu toàn diện: chuyển đổi AI. Họ đang xây lại mô hình vận hành từ đầu với giả định rằng một phần lớn công việc trí tuệ sẽ do máy thực hiện. Khi một đối thủ có thể vận hành với chi phí cấu trúc thấp hơn đáng kể và tốc độ ra quyết định nhanh hơn nhiều, vấn đề không còn là có nên thay đổi không, mà là chúng ta còn bao nhiêu thời gian. Thị trường cũng đang đặt ra sức ép theo một hướng khác. Khách hàng - cả khối doanh nghiệp lẫn cá nhân - bắt đầu kỳ vọng tốc độ và mức độ cá nhân hóa mà chỉ có thể đáp ứng nếu AI được tích hợp sâu vào vận hành, không phải chỉ nằm ở lớp giao diện. Doanh nghiệp nào chưa chuẩn bị về mặt tổ chức sẽ không thể đáp ứng, dù họ có mua bao nhiêu công cụ AI đi nữa. [4] Dữ liệu từ thị trường Việt Nam phản ánh rõ điều này. 73% doanh nghiệp đã ứng dụng AI - con số cho thấy nhận thức thị trường đã đủ lớn. Nhưng chỉ 13,8% báo cáo triển khai có hiệu quả thực sự. Khoảng cách giữa hai con số đó không có gì là lạ. Nếu ta nhìn sâu vào bên trong các tổ chức, bức tranh thường khá giống nhau. Dữ liệu nằm phân tán ở nhiều hệ thống, chưa được chuẩn hóa và không sẵn sàng để AI có thể khai thác một cách độc lập. Kiến trúc tích hợp giữa các nền tảng chưa tồn tại hoặc vá víu tạm thời. Đội ngũ thiếu những người am hiểu đồng thời cả công nghệ lẫn nghiệp vụ - hai thứ tách rời nhau thì AI mãi chỉ là thử nghiệm. Và gần như không có khung quản trị nào để đo lường xem AI đang tạo ra giá trị thực sự ở đâu, hay chỉ đang tạo ra cảm giác hiện đại kiểu "wow". Đây là lý do phần lớn những gì đang được gọi là ứng dụng AI thực chất chỉ là đưa một công cụ mới vào một quy trình cũ. Nhân viên làm việc nhanh hơn. Một số bước được tự động hóa. Nhưng cấu trúc tổ chức, logic phân cấp và cách thức ra quyết định vẫn nguyên vẹn như trước. Đó chưa phải là chuyển đổi mà mới chỉ là hiện đại hóa bề mặt. [5] Nhìn lại hành trình của các khách hàng đang thực sự tạo ra khác biệt, có ba giai đoạn rõ nét: Giai đoạn đầu là năng suất cá nhân - AI giúp từng người làm việc nhanh hơn. Giai đoạn thứ hai là tái thiết kế quy trình - AI bắt đầu thay thế một phần công việc vốn thuộc về con người. Giai đoạn thứ ba - nơi khoảng cách cạnh tranh thực sự được tạo ra - là khi AI không còn là công cụ hỗ trợ mà trở thành hạ tầng vận hành: được nhúng sâu vào các nền tảng kinh doanh, chạy liên tục dưới dạng agent theo từng tác vụ, và định hình lại toàn bộ cách tổ chức hoạt động. [6] Gartner dự báo đến cuối năm 2026, khoảng 40% doanh nghiệp sẽ vận hành AI agent theo tác vụ. Đó không còn là tương lai xa. Và khoảng cách giữa những doanh nghiệp đang xây nền tảng cho giai đoạn đó ngay từ hôm nay với những doanh 07:25 13/9/26 SKX8RW-20260913_072513 https://a.khaothi.online/test-form/view/112825/content 1/6

Trang 2

nghiệp còn đang loay hoay ở giai đoạn một sẽ ngày càng gia tăng. Hầu hết doanh nghiệp đang ở giai đoạn một. Nhiều người nghĩ mình đã ở giai đoạn hai. Rất ít người đang thực sự chuẩn bị cho giai đoạn ba. [7] Thế kỷ XX được xây dựng trên logic quản lý sự khan hiếm của trí tuệ. Thập kỷ tới sẽ thuộc về những tổ chức học được cách vận hành khi trí tuệ không còn là giới hạn. Những doanh nghiệp dẫn đầu trong làn sóng này sẽ không nhất thiết là những doanh nghiệp có công nghệ tốt nhất. Họ sẽ là những doanh nghiệp hành động sớm nhất dựa trên một nhận thức đơn giản: điều AI thực sự thay đổi không phải là công cụ chúng ta dùng - mà là giả định nền tảng mà chúng ta tổ chức doanh nghiệp trên đó. Nhận ra điều đó sớm hơn đối thủ và hành động thật nhanh mới là lợi thế thực sự. Hoàng Tô, “Khi trí tuệ không còn khan hiếm” trên VnExpress, https://vnexpress.net/khi-tri-tue-khong-con-khan-hiem￾5086573.html) 1. Theo đoạn [1], cấu trúc phân cấp, phòng ban và quy trình phê duyệt trong mô hình doanh nghiệp truyền thống bản chất được sinh ra để phục vụ mục đích gì? A. Mở rộng năng lực phân tích của các chuyên gia cấp cao. B. Quản trị sự thiếu hụt tự nhiên của nguồn lực trí tuệ. C. Phân tán rủi ro và giảm tải áp lực trong hệ thống kinh doanh. D. Tối ưu hóa chi phí tuyển dụng nhân sự. 2. Tác giả dẫn chứng câu chuyện "thay động cơ hơi nước bằng động cơ điện" ở cuối thế kỷ XIX (đoạn [3]) nhằm mục đích chính là gì? A. Chứng minh công nghệ mới luôn mất nhiều thời gian để mang lại hiệu quả thực tiễn B. Nhấn mạnh rằng AI cũng tạo ra một cuộc cách mạng năng suất tuyến tính tương tự điện năng. C. Lập luận rằng công nghệ mới chỉ tạo ra bước ngoặt khi mô hình vận hành cốt lõi được tái thiết kế tương thích với nó. D. Cảnh báo các doanh nghiệp đang dùng AI về nguy cơ bị đào thải bởi các nhà máy tự động hóa. 3. Trong ngữ cảnh của đoạn [4], thuật ngữ "hiện đại hóa bề mặt" được tác giả sử dụng để ám chỉ tình trạng nào của doanh nghiệp? A. Chỉ đầu tư ngân sách vào các công cụ AI tạo ra cảm giác "wow" nhưng chưa tối ưu vận hành. B. Áp dụng công nghệ mới để tăng tốc một số tác vụ cá nhân nhưng vẫn ưu tiên duy trì nguyên vẹn logic ra quyết định cũ. C. Triển khai tích hợp AI sâu vào quy trình nhưng gặp gặp khó khăn về mặt chuẩn hóa dữ liệu. D. Chỉ sử dụng AI ở lớp giao diện trực quan nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng. 4. Thí sinh điền một từ không quá hai tiếng trong bài đọc để hoàn thành phát biểu sau: Sự chuyển đổi AI tạo ra lợi thế cạnh tranh ở giai đoạn cuối, khi AI thoát khỏi vỏ bọc công cụ và xuất hiện các hoạt động mang tính độc lập , từ đó định hình lại toàn bộ cơ chế hoạt động." 5. Dựa vào đoạn [4], hãy đánh giá tính Đúng/Sai của các nội dung sau Đúng Sai Dữ liệu nền tảng của các doanh nghiệp chưa được chuẩn hóa đồng bộ nhưng lại nằm phân tán trên quá nhiều hệ thống. Có sự đứt gãy trong đội ngũ nhân sự khi thiếu vắng những cá nhân kết nối được đồng thời cả mảng công nghệ và nghiệp vụ kinh doanh. 07:25 13/9/26 SKX8RW-20260913_072513 https://a.khaothi.online/test-form/view/112825/content 2/6

Trang 3

Các khung quản trị hiện tại đang tập trung vào việc đo lường cảm giác hiện đại thay vì giá trị thực. 6. Câu nói "Hầu hết doanh nghiệp đang ở giai đoạn một. Nhiều người nghĩ mình đã ở giai đoạn hai. Rất ít người đang thực sự chuẩn bị cho giai đoạn ba" được sử dụng để nhắc nhở điều gì? A. Sự ngộ nhận về mức độ trưởng thành số khi coi tác tử AI là mục tiêu cho việc tái cơ cấu. B. Sự nhầm lẫn giữa việc nâng cấp công cụ đơn lẻ với việc tái thiết kế luồng chuỗi giá trị. C. Sự lạc quan thái quá về khả năng của AI trong việc thay thế nhân sự cấp cao. D. Sự chần chừ trong việc đầu tư và xác định định hướng ứng dụng AI trong chuỗi giá trị. 7. Theo triết lý được trình bày trong toàn bộ bài viết, lợi thế cạnh tranh mang tính sống còn của một tổ chức trong kỷ nguyên tới phụ thuộc vào năng lực nào sau đây? A. Khả năng thấu hiểu khách hàng và cung cấp trải nghiệm cá nhân phù hợp với hệ thống B. Khả năng tận dụng thuật toán phức tạp và cơ sở dữ liệu trước sự thay đổi của thị trường. C. Khả năng tái cơ cấu các mô hình vốn được sinh ra để đối phó với nguồn lực khan hiếm. D. Khả năng đào tạo nhân sự am hiểu công nghệ để tăng tốc năng xuất hoạt động. 8. Khoảng cách giữa tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam ĐÃ ứng dụng AI và tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng thực sự hiệu quả là 59,2 %. 9. Hãy đánh giá việc các hành động dưới đây có thể được tác giả coi là "chuyển đổi AI đích thực": A. Cấp quyền sử dụng ChatGPT cho toàn bộ nhân viên để họ viết báo cáo rủi ro nhanh hơn, đồng thời giữ nguyên quy trình thẩm định dể đảm bảo chất lượng. B. Đập bỏ hoàn toàn luồng đăng ký khám bệnh cũ, thiết kế lại hệ thống phân luồng bệnh nhân do tác tử AI (AI agent) tự động ra quyết định điều phối. C. Liên tục chi ngân sách để thay đổi các nhà cung cấp phần mềm nhằm đảm bảo tổ chức luôn sở hữu các thuật toán AI tiên tiến nhất thế giới. D. Cắt bỏ 2 lớp quản lý trung gian và thiết kế lại quy trình, giao quyền ra quyết định phê duyệt cấp 1 trực tiếp cho một hệ thống AI. 10. Hãy đánh giá tính logic của các suy luận sau: Đúng Sai Tác giả ngầm định rằng cấu trúc phân cấp, phòng ban truyền thống chính là lực cản lớn nhất ngăn AI phát huy giá trị thực sự. Yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh cốt lõi trong thập kỷ tới là sự thay đổi tư duy quản trị vận hành. Giải pháp cho các doanh nghiệp đang trong quá trình hiện đại hóa bề mặt là cần thay đổi trực tiếp logic phân cấp và đập bỏ giả định nền tảng về việc xây dựng cỗ máy tổ chức để quản lý sự khan hiếm trí tuệ. 07:25 13/9/26 SKX8RW-20260913_072513 https://a.khaothi.online/test-form/view/112825/content 3/6

Trang 4

Điều gì tạo nên một thiên tài? [1] Thiên tài là sự kết hợp của cả yếu tố bẩm sinh và môi trường sống. Những người được coi là thiên tài nhìn chung đều có chỉ số thông minh IQ cao, tính tò mò và khả năng sáng tạo tuyệt vời. [2] Có lẽ đối với các vận động viên, thiên tài là người giành được huy chương Olympic. Trong lĩnh vực giải trí, một thiên tài có thể định nghĩa là người đã đạt danh hiệu EGOT – hoặc người sở hữu cả bốn giải thưởng nghệ thuật cao quý nhất bao gồm Emmy (lĩnh vực truyền hình), Grammy (âm nhạc), Oscar (phim) và Tony (nhạc kịch). Đối với Hiệp hội quốc tế Mensa bao gồm các thành viên có trí thông minh cao, những người đạt điểm cao hơn 98% dân số thế giới trong bài kiểm tra IQ hoặc bài kiểm tra trí thông minh tiêu chuẩn khác có thể được coi là thiên tài. Định nghĩa phổ biến nhất về thiên tài phù hợp với cách tiếp cận của Hiệp hội quốc tế Mensa, đó là “một người có trí thông minh đặc biệt”. [3] [...] Về mặt thống kê, bạn phải là một thiên tài để đủ điều kiện gia nhập Hiệp hội quốc tế Mensa, với trí thông minh thuộc nhóm 2% những người có chỉ số IQ cao nhất thế giới. Tuy nhiên, Lawlis cho biết ngay cả những bài kiểm tra dùng để đánh giá chỉ số IQ cũng có thể vô tình loại trừ một số người xuất sắc và tài năng nhất. “Các bài kiểm tra IQ không thể đánh giá toàn bộ trí thông minh của một người vì chúng dựa trên những câu hỏi đã có sẵn câu trả lời. Trí thông minh thực sự bắt nguồn từ việc suy nghĩ sáng tạo, và bạn không thể kiểm tra điều đó”, Lawlis nói. “Khi một số người có trí tuệ vượt trội làm bài kiểm tra đánh giá chỉ số IQ, thay vì họ hướng sự chú ý của mình vào câu trả lời đúng, họ nghĩ về nhiều câu trả lời khác cũng có thể áp dụng được, vì vậy họ thường bối rối và làm bài rất kém”. [4] Thiên tài – sự kết hợp giữa trí thông minh, sự sáng tạo và đóng góp cho xã hội – rất khó định nghĩa một cách chính xác, theo Dean Keith Simonton, giáo sư tâm lý học tại Đại học California, Davis (Mỹ). [...] “Tài năng là khi bạn bắn trúng mũi tên vào tấm bia không ai có thể bắn trúng. Thiên tài là khi bạn bắn trúng mũi tên vào tấm bia không ai nhìn thấy được”, Simonton dẫn lời triết gia nổi tiếng người Đức Arthur Schopenhauer sống ở thế kỷ 19. Nói một cách dễ hiểu hơn, tài năng là khi bạn làm điều gì đó mà người khác không thể làm. Còn thiên tài là khi bạn làm điều gì đó mà người khác thậm chí còn chưa nhìn thấy, nhận thức hay hiểu được. [5] Bên trong bộ não của thiên tài [...] Andreasen đã kiểm tra những người có khả năng sáng tạo ở mức cao tham gia Hội thảo Nhà văn Iowa tại Đại học Iowa [tạm gọi là nhóm sáng tạo], và một nhóm đối chứng [hoặc nhóm kiểm soát] đến từ nhiều ngành nghề khác nhau ít đòi hỏi tính sáng tạo, chẳng hạn như luật sư, quản trị viên, kế toán,... Họ đều có độ tuổi, trình độ học vấn tương tự nhau. Trong quá trình quét não bằng công nghệ fMRI, những người tham gia thí nghiệm được yêu cầu thực hiện ba nhiệm vụ khác nhau: liên kết từ vựng, liên kết hình ảnh và nhận dạng mẫu. Kết quả cho thấy bộ não của nhóm sáng tạo có sự kích hoạt mạnh mẽ hơn trong các vùng vỏ não liên kết (association cortices). Đây là những vùng phát triển nhất trong não người, giúp diễn giải và sử dụng thông tin thị giác, thính giác, cảm giác và vận động. [6] Ngoài các cơ chế hoạt động của não, Andreasen cũng tìm kiếm những yếu tố khác ảnh hưởng đến khả năng sáng tạo của các tình nguyện viên. “Một số người nhìn thấy và làm những điều mà người khác không thể. Nếu họ đúng, chúng ta gọi họ là những thiên tài sáng tạo. Nếu họ sai, chúng ta gọi họ là người mắc bệnh tâm thần”, Andreasen viết trên tờ The Atlantic, đề cập đến những người tham gia nghiên cứu của mình. “Đôi khi, có những người phù hợp với cả hai cách phân loại này”. Andreasen phát hiện có một dấu hiệu chung khác của các thiên tài sáng tạo, đó là bệnh lý về tâm thần hoặc rối loạn thần kinh. Thông qua các cuộc phỏng vấn và nghiên cứu sâu rộng, Andreasen nhận thấy những người có khả năng sáng tạo ở mức cao mà cô nghiên cứu có tỷ lệ mắc bệnh tâm thần cao hơn, bao gồm cả tiền sử gia đình mắc bệnh tâm thần. Các chẩn đoán phổ biến nhất là rối loạn lưỡng cực, trầm cảm, lo lắng và nghiện rượu. “Câu hỏi đặt ra là bệnh tâm thần góp phần tạo nên thiên tài hay ngược lại. Chúng ta vẫn chưa có câu trả lời đầy đủ và rõ ràng”, Andreasen nói. [7] Trong nghiên cứu về bộ não của Einstein, một trong những thiên tài nổi tiếng nhất lịch sử, các nhà khoa học tại Đại học bang Florida (Mỹ) đã phát hiện những đặc điểm thể chất khác biệt trên bộ não của nhà vật lý, có thể giúp giải thích cho khả năng thiên tài của ông. Cụ thể, não Einstein có nhiều nếp gấp hơn trong chất xám, phần não xử lý tư duy có ý thức. Khu vực thùy trán – phần não đóng vai trò quan trọng trong suy nghĩ trừu tượng, đưa ra dự đoán và lập kế hoạch – cũng có những nếp gấp đặc biệt phức tạp. Kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Brain vào năm 2012. (Bá Lộc dịch, Tạp chí Tia sáng, https://tiasang.com.vn/tin-noi-bat/tieu-diem-trai/dieu-gi-tao-nen-mot-thien-tai/) 07:25 13/9/26 SKX8RW-20260913_072513 https://a.khaothi.online/test-form/view/112825/content 4/6

Trang 5

17. 11. Nội dung chính của văn bản trên là gì? A. Các tiêu chí để xác định một thiên tài. B. Cách đào tạo một thiên tài. C. Định nghĩa về một thiên tài và các đặc điểm của họ. D. Những nghiên cứu khoa học về các thiên tài 12. Hãy xác định tính đúng sai của các phát biểu sau: Đúng Sai Theo hiệp hội quốc tế Mensa, người được coi là thiên tài cần trải qua bài kiểm tra IQ hoặc bài kiểm tra trí thông minh tiêu chuẩn khác và nằm trong số 98% dân số thế giới có điểm cao nhất. Các bài kiểm tra IQ, dựa trên đặc điểm chuẩn hóa, đánh giá mỗi người dân dựa trên khả năng đáp ứng và suy luận tri thức dựa trên những đặc điểm có sẵn. 13. Từ trích dẫn của triết gia Arthur Schopenhauer ta có thể suy luận điều gì về sự công nhận của xã hội đối với một thiên tài? A. Các thành tựu của thiên tài có thể không được thời đại của họ thấu hiểu và công nhận ngay lập tức. B. Thiên tài thường dễ dàng nhận được sự tán dương của công chúng hơn so với những người có tài năng. C. Xã hội luôn có xu hướng nhầm lẫn giữa một thiên tài thực sự và một người mắc bệnh tâm thần. D. Sự vĩ đại của thiên tài chỉ được định hình khi họ vượt qua mọi quy chuẩn đạo đức đương thời. 14. Chức năng logic của đoạn văn số [3] so với đoạn văn số [2] là gì? A. Đưa ra các bằng chứng thực nghiệm để củng cố cho định nghĩa và tiêu chuẩn được nêu ở đoạn [2]. B. Mở rộng khái niệm thiên tài ở đoạn [2] sang các lĩnh vực thiên về vận động và nghệ thuật. C. Bác bỏ hoàn toàn tính hợp pháp của các tổ chức và giải thưởng được nhắc đến ở đoạn [2]. D. Chỉ ra những góc khuất hoặc hạn chế trong cách tiếp cận và tiêu chí đo lường được nêu ở đoạn [2]. 15. Điền hai cụm từ không quá ba tiếng có trong bài đọc vào chỗ trống: Nếu nói tài năng chính là việc mỗi chúng ta giỏi hơn mọi người, làm được những điều mà mọi người không thể làm thì thiên tài không đơn thuần như vậy, một người được xem là thiên tài khi người đó làm được những điều mà người khác không nhìn thấy 16. Dựa trên toàn bộ kết quả nghiên cứu của Andreasen, những nhận định nào sau đây là suy luận HỢP LÝ? (Chọn nhiều đáp án đúng): A. Sự kích hoạt vượt trội tại vùng vỏ não liên kết là một cơ sơ trong việc xác định một người trở thành thiên tài. B. Ranh giới định danh giữa một "thiên tài sáng tạo" và một "người mắc bệnh tâm thần" đôi khi phụ thuộc vào tính dung nạp hoặc sự xác tín của xã hội đối với ý tưởng của họ. C. Các bằng chứng thực nghiệm đã khẳng định được mối quan hệ nhân quả giữa các căn bệnh tâm thần và khả năng sáng tạo thiên bẩm. D. Tồn tại một mối tương quan thống kê rõ rệt giữa những cá nhân có khả năng sáng tạo cao và tần suất mắc các rối loạn tâm lý như trầm cảm, lưỡng cực. 07:25 13/9/26 SKX8RW-20260913_072513 https://a.khaothi.online/test-form/view/112825/content 5/6

Trang 6

tài năng tinh thần rối loạn sáng tạo 19. chất trắng tâm thần tư duy phân kỳ Hãy hoàn thành câu sau bằng cách kéo thả các cụm từ vào đúng vị trí: Theo đoạn số [6], ranh giới giữa thiên tài và bệnh tâm thần là vô cùng mỏng manh. Những phát hiện mới lạ mà người khác không thể nhìn thấy và không thể làm, nếu đúng được gọi là những thiên tài sáng tạo còn nếu không đúng sẽ trở thành người mắc bệnh tâm thần. 18. Công nghệ fMRI được sử dụng để quan sát mức độ kích hoạt của các vùng não như vỏ não liên kết khi các đối tượng thực hiện các nhiệm vụ nhận thức vượt xa những gì mà các bài kiểm tra IQ truyền thống đang đo lường. A. Đúng B. Sai Điền từ/cụm từ thích hợp vào chỗ trống để hoàn thiện đoạn tóm tắt sau về nền tảng sinh học của thiên tài: "Nghiên cứu khoa học cho thấy nền tảng sinh lý của thiên tài khá đặc biệt. Trong khi các cá nhân sáng tạo cho thấy sự kích hoạt cao tại vỏ não liên kết , bộ não của Einstein lại có mật độ nếp gấp dày đặc ở chất xám , đặc biệt là ở thùy trán - khu vực quản lý suy nghĩ trừu tượng . 20. Xét phát biểu sau: Nghiên cứu của Andreasen và nghiên cứu về não Einstein đều tập trung vào việc (1) tìm kiếm các đặc điểm thể chất và sinh học của vùng vỏ não liên kết để giải thích cho khả năng thiên tài, nhưng nhiên (2) chỉ nguyên cứu của Andreasen mới có thể đưa ra kết luận thực nghiệm về hoạt động và chức năng của não, còn nghiên cứu về não Einstein chỉ mang tính suy đoán lý thuyết. A. Phát biểu (1) (2) đều đúng B. Phát biểu (1) (2) đều sai C. Phát biểu (1) đúng (2) sai D. Phát biểu (1) sai (2) đúng 07:25 13/9/26 SKX8RW-20260913_072513 https://a.khaothi.online/test-form/view/112825/content 6/6

Die ersten 6 Seiten werden angezeigt. Laden Sie das Dokument herunter, um alles zu sehen.

Kommentare (0)

Anmelden um an der Diskussion teilzunehmen

Noch keine Kommentare. Seien Sie der Erste!